Tổng quan nghiên cứu

Thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2010 - 2012 chứng kiến nhiều biến động sâu sắc từ hệ quả của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, bộc lộ rõ những điểm nghẽn nghiêm trọng trong khối định chế tài chính phi ngân hàng. Đến ngày 30/6/2013, tổng tài sản của khối công ty tài chính và cho thuê tài chính đạt 153.020 tỷ đồng, nhưng tỷ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) sụt giảm xuống mức báo động 8,41% và vốn tự có ghi nhận mức sụt giảm âm 7,76% (tương đương giảm 9.931 tỷ đồng). Thực tế này đặt hệ thống gồm 17 công ty tài chính với tổng vốn điều lệ hơn 14.000 tỷ đồng trước áp lực tái cấu trúc toàn diện.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu bắt nguồn từ thực trạng các Tập đoàn và Tổng công ty Nhà nước huy động vốn dàn trải để đầu tư ngoài ngành, trong khi trình độ quản trị và năng lực tài chính còn nhiều hạn chế. Đề tài tập trung giải quyết mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận về công ty tài chính, phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010 - 2012, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp then chốt nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và định hình mô hình phát triển bền vững.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ hệ thống các công ty tài chính tại Việt Nam, trọng tâm là các đơn vị trực thuộc các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước tại các trung tâm kinh tế lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp giải quyết sự mất cân đối kỳ hạn nghiêm trọng (cho vay trung dài hạn chiếm trên 35% tổng dư nợ nhưng nguồn vốn huy động trung dài hạn chỉ đạt dưới 9%) và xử lý bài toán nợ xấu chiếm tới 18% toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Lý thuyết Trung gian Tài chính (Financial Intermediation Theory) và Lý thuyết Quản trị Tài sản Có - Tài sản Nợ (Asset-Liability Management - ALM). Theo đó, công ty tài chính đóng vai trò cầu nối dẫn vốn chuyên biệt, giúp tiết kiệm chi phí thông tin, giảm thiểu chi phí giao dịch và phân tán rủi ro thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Mô hình nghiên cứu phân định rõ các khái niệm cốt lõi trong hệ thống tài chính tiền tệ:

  • Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: Định chế tài chính thực hiện các hoạt động ngân hàng nhưng không được cung ứng dịch vụ thanh toán và không được nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 năm của cá nhân.
  • Bao thanh toán (Factoring): Nghiệp vụ cấp tín dụng thông qua việc mua lại các khoản phải thu thương mại kèm chiết khấu từ 10% đến 20% giá trị hợp đồng để phòng ngừa rủi ro thu hồi nợ.
  • Ủy thác đầu tư: Phương thức đầu tư tài chính linh hoạt gồm ủy thác chia sẻ rủi ro, ủy thác không chia sẻ rủi ro và ủy thác hưởng lợi tức cố định.
  • Chênh lệch kỳ hạn tái định giá: Thước đo đánh giá độ nhạy cảm của tài sản nợ và tài sản có trước biến động lãi suất thị trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác từ Báo cáo cân đối kế toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê (GSO) và các biên bản thanh tra của Kiểm toán Nhà nước giai đoạn 2000 - 2012.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 17 công ty tài chính được cấp phép hoạt động tính đến năm 2013, phân loại theo ba nhóm hình thức sở hữu: 4 công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước nắm giữ 100% vốn; 7 công ty cổ phần có vốn Nhà nước chiếm trên 25%; và 6 công ty có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tác giả thực hiện khảo sát có mục đích chuyên sâu vào 8 đơn vị đại diện gồm Công ty Tài chính Dệt may, Cao su, Bưu điện, Tàu thủy, Handico, Than - Khoáng sản, Sông Đà và Vinaconex - Viettel.

Phương pháp phân tích dãy số thời gian, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh tổng hợp được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác xu hướng biến động của các chỉ tiêu sinh lời ROA, ROE, tỷ lệ an toàn vốn CAR và mức độ lệch pha kỳ hạn giữa dòng vốn huy động và dư nợ tín dụng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống công ty tài chính rơi vào trạng thái mất cân đối nghiêm trọng về kỳ hạn nguồn vốn. Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn của khối công ty tài chính ở mức rất cao: 37,42% năm 2010, 41,48% năm 2011 và 35,53% năm 2012. Ngược lại, tỷ trọng vốn huy động trung dài hạn tương ứng chỉ chiếm 8,8% năm 2010, giảm xuống 6,3% năm 2011 và đạt 7,2% năm 2012. Tình trạng lấy nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho các dự án dài hạn đã đẩy tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động trên thị trường 1 lên mức 164,33%.

Thứ hai, chất lượng tài sản và hiệu quả kinh doanh suy giảm nghiêm trọng. Tính đến ngày 30/6/2013, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) đạt mức -0,19% và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) rơi xuống -4,22%. Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, 13 công ty tài chính chỉ tạo ra dư nợ 14.600 tỷ đồng (chiếm 1,6% tổng dư nợ toàn thành phố) nhưng lại nắm giữ tới 18% tổng nợ xấu của toàn bộ các tổ chức tín dụng trên địa bàn.

Thứ ba, hoạt động huy động vốn và đầu tư phát sinh nhiều sai lệch. Trên 60% nguồn vốn của các công ty tài chính phải đi vay từ các tổ chức tín dụng khác thay vì huy động nội bộ. Vốn huy động nội ngành giảm từ 6.823 tỷ đồng (chiếm 17,16% năm 2010) xuống còn 6.008,69 tỷ đồng (chiếm 9,41% năm 2011). Hoạt động đầu tư ủy thác và trái phiếu doanh nghiệp ghi nhận nhiều khoản lỗ lớn, điển hình như khoản đầu tư ủy thác chứng khoán của Công ty Tài chính Dệt may lỗ 87,3 tỷ đồng năm 2011, các khoản mua trái phiếu doanh nghiệp chậm tiến độ lên tới hàng trăm tỷ đồng tại các dự án bất động sản và hoạt động kinh doanh ngoại tệ sai quy định gây lỗ hơn 20 tỷ đồng trong hai năm 2010 - 2011 tại Công ty Tài chính Sông Đà.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ mô hình quản trị phụ thuộc nặng nề vào công ty mẹ, dẫn đến việc giải ngân vốn bị chi phối bởi các quyết định hành chính thay vì thẩm định rủi ro độc lập. Khung pháp lý theo Nghị định 79/2002/NĐ-CP chưa có chế tài kiểm soát chặt chẽ đối với các khoản vay nội bộ và hoạt động nhận vốn ủy thác trá hình.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, các thị trường phát triển đã xây dựng hành lang pháp lý rất chuyên biệt. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, mô hình Siemens Financial Services (SFS) thành công nhờ tập trung quản lý vốn chuỗi cung ứng và thiết bị kỹ thuật công nghiệp. Tại Hàn Quốc, Luật Công ty Tài chính cho vay chuyên biệt năm 1998 quy định rõ trần phát hành trái phiếu gấp từ 4 đến 10 lần vốn chủ sở hữu. Các thực tế này khẳng định công ty tài chính Việt Nam cần sớm xóa bỏ tư duy vận hành như một ngân hàng thương mại thu nhỏ. Để kiểm soát rủi ro, toàn bộ dữ liệu khe hở nhạy cảm lãi suất và dòng tiền cần được mô hình hóa chi tiết qua biểu đồ lệch kỳ hạn tái định giá và bảng ma trận tài sản nợ - có định kỳ hàng tuần.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu nguồn vốn và kiểm soát an toàn thanh khoản. Các công ty tài chính cần chủ động tái cấu trúc danh mục nợ bằng cách đẩy mạnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp dài hạn và chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng nguồn vốn huy động trung dài hạn lên mức tối thiểu 25% - 30% tổng tài sản nợ, đồng thời đưa tỷ lệ cấp tín dụng trên vốn huy động (LDR) từ mức 164,33% về dưới 100% trong giai đoạn 2014 - 2017.

Thứ hai, nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng và xử lý dứt điểm nợ xấu. Ban điều hành các công ty tài chính phải ban hành quy chế xếp hạng tín dụng nội bộ độc lập với hội đồng quản trị tập đoàn mẹ, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ và phối hợp với Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để xử lý nợ tồn đọng. Mục tiêu hạ tỷ lệ nợ xấu của khối từ 18% xuống dưới mức an toàn 3% trước năm 2018.

Thứ ba, chuyển đổi mô hình kinh doanh sang hướng chuyên môn hóa cao. Các công ty tài chính cần thoái toàn bộ vốn đầu tư ngoài ngành tại các dự án bất động sản và cổ phiếu niêm yết có độ rủi ro cao. Chuyển hướng tập trung nguồn lực vào ba trụ cột chuyên biệt: tài trợ chuỗi cung ứng nội ngành, cung ứng dịch vụ bao thanh toán (factoring) và đẩy mạnh mảng cho vay tiêu dùng bán lẻ trả góp vốn còn nhiều dư địa phát triển.

Thứ tư, hoàn thiện khung pháp lý và chính sách giám sát vĩ mô. Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành thông tư thay thế Nghị định 79/2002/NĐ-CP, áp dụng chuẩn mực an toàn vốn Basel II với hệ số CAR tối thiểu 9% - 10%, đồng thời thiết lập giới hạn cấp tín dụng nghiêm ngặt đối với một khách hàng và nhóm khách hàng liên quan trong tập đoàn không vượt quá 15% - 25% vốn tự có.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Lãnh đạo và Chuyên viên Quản trị rủi ro tại các Công ty Tài chính: Tài liệu cung cấp giải pháp thực tiễn về kỹ thuật quản trị khe hở lãi suất, phương pháp tái cơ cấu kỳ hạn danh mục tài sản và cách thức thiết lập quy trình kiểm soát tín dụng độc lập.
  • Cơ quan Quản lý Nhà nước (Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính): Nguồn luận cứ phục vụ công tác xây dựng thể chế quản lý các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, giám sát tiến trình thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước.
  • Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên Cao học ngành Tài chính - Ngân hàng: Công trình nghiên cứu học thuật chuẩn mực với hệ thống số liệu kiểm toán thực chứng, mô hình so sánh quốc tế phong phú và phương pháp tiếp cận đa chiều về tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp.
  • Ngân hàng Thương mại và các Định chế Đầu tư: Tham khảo dữ liệu chuyên sâu để đánh giá sức khỏe tài chính của đối tác, thẩm định cơ hội hợp vốn cho vay dự án hoặc thực hiện các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) và chuyển nhượng danh mục tín dụng tiêu dùng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các công ty tài chính trực thuộc tập đoàn nhà nước lại gặp khó khăn thanh khoản nghiêm trọng giai đoạn 2010 - 2012? Các đơn vị này đã sử dụng nguồn vốn ngắn hạn vay từ các tổ chức tín dụng khác (chiếm trên 60%) để cấp tín dụng trung và dài hạn cho các dự án ngoài ngành như bất động sản. Khi thị trường đóng băng và lạm phát tăng cao, tỷ lệ vốn huy động trung dài hạn giảm xuống 6,3%, gây tắc nghẽn thanh khoản nghiêm trọng.

Điểm khác biệt căn bản giữa công ty tài chính và ngân hàng thương mại là gì? Công ty tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng, không được phép thực hiện dịch vụ thanh toán qua tài khoản và không được nhận tiền gửi không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 năm của cá nhân. Công ty tài chính huy động vốn chủ yếu qua phát hành giấy tờ có giá và vốn vay tổ chức.

Những sai phạm phổ biến nhất trong hoạt động đầu tư của các công ty tài chính là gì? Các sai phạm lớn bao gồm việc mua trái phiếu doanh nghiệp vượt hạn mức quy định (vượt 25% vốn điều lệ), giải ngân vốn góp trước khi có nghị quyết hội đồng quản trị, thiếu báo cáo tài chính thẩm định và thực hiện các giao dịch kinh doanh ngoại tệ bất thường gây thua lỗ hàng chục tỷ đồng.

Kinh nghiệm quản lý từ tập đoàn Siemens (Đức) gợi mở bài học gì cho Việt Nam? Mô hình Siemens Financial Services cho thấy công ty tài chính tập đoàn chỉ nên đóng vai trò hỗ trợ chuỗi giá trị cốt lõi, tập trung tài trợ bán hàng, cho thuê thiết bị công nghệ và quản lý ngân quỹ tập trung, thay vì mở rộng dàn trải sang kinh doanh chứng khoán hay đầu tư bất động sản.

Định hướng tái cấu trúc bắt buộc đối với hệ thống công ty tài chính hiện nay là gì? Định hướng bắt buộc là đẩy mạnh thoái vốn ngoài ngành của tập đoàn mẹ, sáp nhập các đơn vị yếu kém vào các ngân hàng thương mại, nâng cao tỷ lệ an toàn vốn CAR trên 9% và chuyển dịch sang mô hình tài chính tiêu dùng chuyên nghiệp hoặc cho thuê tài chính chuyên sâu.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng hoạt động của hệ thống 17 công ty tài chính tại Việt Nam, chỉ rõ các điểm nghẽn về mất cân đối kỳ hạn và tỷ lệ nợ xấu 18% trên địa bàn trọng điểm.
  • Bóc tách chi tiết nguyên nhân dẫn đến suy giảm năng lực tài chính, từ việc lạm dụng vốn ngắn hạn đến các sai phạm trong hoạt động đầu tư trái phiếu và kinh doanh ngoại tệ.
  • Đúc kết hệ thống bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Mỹ, Pháp, Đức, Hàn Quốc và Singapore để ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam.
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao nhằm tái cơ cấu nguồn vốn, nâng cao hệ số CAR và định hình lại mô hình kinh doanh chuyên môn hóa.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn 2014 - 2020.

Để triển khai hiệu quả các giải pháp nghiên cứu, các công ty tài chính cần khẩn trương rà soát lại toàn bộ danh mục tài sản sinh lời và áp dụng ngay các chuẩn mực quản trị rủi ro thanh khoản tiên tiến. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục mở rộng đề tài theo hướng lượng hóa rủi ro tín dụng tiêu dùng cá nhân trong kỷ nguyên số hóa ngân hàng.