Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hệ thống giáo dục nói chung Hệ thống giáo dục (HTGD) là nội dung hết sức quan trọng về lĩnh vực giáo dục của một quốc gia hay tổ chức xã hội. Nhờ đó, giáo dục được tổ chức theo quy mô xã hội, mang tính chỉnh thể thống nhất, thực hiện các mục đích giáo dục của quốc gia hay tổ chức xã hội.
Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới về HTGD cổ đại, trung đại, Đông phương, Tây phương và hiện đại đã được công bố [53]. Tác giả Vũ Ngọc Hải quan niệm: “Đứng trên quan điểm hệ thống, giáo dục (GD) là một tiểu hệ thống thuộc hệ thống kinh tế - xã hội. Thông thường HTGD được hiểu theo hệ thống nhà trường (Schools System), trong đó phản ánh các loại hình trường, sự sắp đặt vị trí, chức năng và mối quan hệ giữa chúng trong các bậc học và trong toàn hệ thống” [50, tr. Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “HTGD là một hệ thống con trong hệ thống lớn xã hội, có mối liên hệ hữu cơ với các hệ thống con khác như chính trị, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa.
Tuy nhiên, HTGD là một chỉnh thể có tính độc lập tương đối, thể hiện ở sự khác biệt về cấu trúc so với các hệ thống con khác,. Nhóm tác giả do Trần Thị Tuyết Oanh làm Chủ biên khẳng định: “HTGD là tập hợp các loại hình giáo dục (hoặc loại hình nhà trường) được sắp xếp theo một trình tự nhất định theo các bậc học từ thấp (mầm non) đến cao (đại học hoặc sau đại học)” [65, tr. Trong khái niệm HTGD là HTGD quốc dân tức HTGD chính thống của quốc gia, tác giả Nguyễn Xuân Thanh minh định: “HTGD quốc dân gồm hệ thống nhà trường, hệ thống các cơ sở giáo dục ngoài nhà trường và hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục và các cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục, nhằm thực hiện giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy cho nhân dân” [76]. 11 Cùng trong nội hàm này, Trung tâm Hợp tác giáo dục quốc tế Hà Lan (NUFFIC) đã có những đóng góp về nghiên cứu hệ thống giáo dục của các quốc gia như: HTGD Vương quốc Anh (bao gồm nước Anh, xứ Wales và Scotland), từ cấp tiểu học cho đến cao học [133].
HTGD Hoa Kỳ từ cấp tiểu học cho đến cao học. Hệ thống này rất đa dạng, với sự khác biệt lớn về nội dung và chất lượng. Không có một kỳ thi chuẩn quốc gia cho các giai đoạn giáo dục, vì vậy, các khái niệm về thi đầu vào và tiêu chuẩn hóa không tồn tại trong HTGD Mỹ [132]. HTGD Nhật Bản được thiết lập ngay sau khi Thế chiến II chấm dứt và vẫn tồn tại gần như vậy cho đến ngày nay.
Hệ thống các trường cao đẳng công nghệ được thành lập vào năm 1962. Năm 1964, các chương trình cao đẳng 2 hoặc 3 năm được thiết lập thành một hệ thống chuẩn Luật giáo dục trường học. Những năm 1960, chứng kiến sự ra đời của các trường cao đẳng công nghệ. Và năm 1990, đánh dấu sự ra đời của một hệ thống trung học cơ sở thống nhất trên toàn quốc [136].
HTGD Trung Quốc khảo cứu mô hình HTGD của Trung quốc được hình thành vào những năm 1977-1980. Tổng cộng thời gian của giáo dục tiểu học và trung học được xác định là 12 năm; và sau đó là một kỳ tuyển sinh quốc gia bậc cao đẳng. Chương trình đại học, bậc cử nhân kéo dài 4 năm, và chương trình sau đại học, bậc thạc sĩ là 3 năm [135]. HTGD Hàn quốc do Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm cho tất cả các loại hình giáo dục xứ này từ năm 1948.
Bộ có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chính sách trong lĩnh vực hoạt động học thuật, khoa học và giáo dục, các tổ chức giáo dục tiểu học, trung học và cao hơn; viết và xuất bản sách giáo khoa, chương trình giảng dạy mới; cung cấp các hỗ trợ về hành chính và tài chính cho toàn bộ hệ thống trường học; và giám sát các trường đại học trong việc đào tạo giáo viên và chính sách về nguồn nhân lực [131]. HTGD Canada: Ở Canada, các tỉnh và địa phương có trách nhiệm cá nhân đối với tiểu học, trung học và giáo dục đại học. Mỗi tỉnh có một Bộ/Sở Giáo dục hoạch định chính sách, ngân sách và giám sát chất lượng giáo dục. Từ năm 1967, các Bộ/Sở giáo dục địa phương vẫn thường xuyên liên lạc thông qua việc tham gia vào Hội đồng Bộ trưởng Giáo dục Canada (CMEC) [134].
Và HTGD Singapore do Bộ Giáo dục Singapore biên soạn. Ở Singapore có hơn 350 cơ sở giáo dục và 29.000 12 giáo viên từ cấp tiểu học đến cao học. Ngân sách chi cho giáo dục hằng năm khoảng 8 tỷ đô-la Singapore [105]. Tạp chí MBC Times trong năm 2016 đã công bố bảng xếp hạng Các HTGD hàng đầu thế giới.
Top 10 hệ thống theo thứ tự là: (1) Hàn Quốc; (2) Nhật Bản; (3) Singapore; (4) Hongkong; (5) Phần Lan; (6) Vương quốc Anh; (7) Canada; (8) Hà Lan; (9) Ireland; (10) Ba Lan [124]. Để đi đến thành công, các HTGD hàng đầu hầu hết đều dựa trên 3 yếu tố là: (i) Chất lượng giáo viên; (ii) Đào tạo đội ngũ giáo viên thành người hướng dẫn có hiệu quả; (iii) Đảm bảo hệ thống có thể đưa ra những hướng dẫn tốt nhất cho mọi học viên. Đó là kết luận được rút ra của Công ty tư vấn McKinsey sau khi khảo sát 25 hệ thống trường học trên thế giới, trong đó có 10 hệ thống hàng đầu [125]. Các công trình nghiên cứu theo hướng này của các nhà khoa học nêu trên ở trong nước và nước ngoài đã đề cập các vấn đề cơ bản sau: - HTGD là một hệ thống vệ tinh của hệ thống xã hội.
- HTGD là một chỉnh thể thống nhất mang tính đặc thù về giáo dục. - HTGD thường được hiểu là HTGD quốc dân, là tập hợp các loại hình giáo dục (hoặc loại hình nhà trường) được sắp xếp theo một trình tự nhất định với các bậc học từ thấp (mầm non) đến cao (đại học hoặc sau đại học) và hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục, nhằm thực hiện giáo dục cho nhân dân. - Đánh giá các HTGD trên toàn cầu và bài học đưa đến thành công. Những nghiên cứu về giáo dục Phật giáo Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ, là một trong các tôn giáo lớn của nhân loại và có lịch sử tồn tại lâu đời nhất trong các tôn giáo lớn.
Với ảnh hưởng to lớn và sâu rộng từ trong quá khứ đến hiện đại, từ Đông sang Tây, Phật giáo đã được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học, thức giả trên thế giới quan tâm tìm hiểu về mọi phương diện như lịch sử, triết lý, đạo đức, văn hóa, văn học, nghệ thuật,. đặc biệt là mặt giáo dục. Các công trình nghiên cứu theo hướng này của các nhà khoa học ở trong nước và ở nước ngoài đã đề cập các vấn đề cơ bản sau: 13 - Lịch sử Phật giáo các quốc gia và vùng miền nói chung: Đại cương lịch sử Phật giáo thế giới của Andrew Skilton [99]; Thế giới Phật giáo ở Đông Nam Á của Donald K. Swearer [108]; Lịch sử Phật giáo Nguyên thủy ở Đông Nam Á của Kanai Lal Hazra [115]; Lược sử Phật giáo ở Sri Lanca của H.
Perera [141]; Lược sử Phật giáo ở Miến Điện của Roger Bischoff [145]; Phật giáo ở Thái Lan – Lịch sử và hiện tại do tác giả Karuna Kusalaya biên soạn [116]; Tìm về Phật giáo Thái Lan của Pataraporn Sirikanchana [140]; Lịch sử Thái Lan của Phạm Nguyên Long và Nguyễn Tương Lai [56]; Miến Điện – Mặt trời lên của Thích Thái Hòa [48]; - Một số nghiên cứu liên quan như: Đóng góp bền vững của đạo Phật đối với việc giáo dục cho phát triển toàn cầu của Hudaya Kandahjaya [39]; Một chương trình giảng dạy về Tâm lý học Phật giáo và trị liệu/huấn luyện của G. Maurits Kwee [37]; Hy vọng các thành tựu trí tuệ bằng cách giới thiệu giáo dục Phật giáo của Saw Yee Mon [72]; Cơ hội lẫn thách thức cho giáo dục Phật giáo sư phạm châu Âu và Ấn Độ của Chintala Venkata Sivasai [40]; Lý tưởng Phật giáo hướng đến trẻ em khuyết tật ở Thái Lan: Cái nhìn qua lăng kính của các hiệu trưởng trường dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật của Sermsap Vorapanya - Diane Dunlap [73]; Nhiệm vụ giáo dục con người theo tôn giáo của Peter – Hans Kolvenbach [142]; Giáo dục Phật giáo và giáo dục hiện đại: Tương thích hay không tương thích của Tamas Agocs [152]; Khi Phật giáo gặp gỡ chủ nghĩa toàn thế giới: Một nền giáo dục cho công dân toàn cầu của Mahinda Deegalle [122]; Đại học Nalanda và Quỹ Hỗ trợ giáo dục Phật giáo của Pasadika [139]; Lội ngược trào lưu của Khammai Dhammasami [118]; Khủng hoảng kinh tế hiện nay: Chẩn đoán và các phương pháp tiềm năng dựa theo Phật giáo của Nandisena [128]; Giáo dục Phật giáo của Ananda W. Guruge [98]; Giáo dục Phật giáo ở Ấn Độ cổ đại của Andrey Shastri [100]; - Ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội, văn hóa, giáo dục, chính trị, kinh tế: Giữa chủ nghĩa lý tưởng và chủ nghĩa thực tế - Một nghiên cứu về giáo dục tu viện ở Miến Điện và Thái Lan từ thế kỷ XVII đến hiện tại (2004) của Khammai Dhammasami [118]; Giá trị Phật giáo và việc đúc kết xây dựng giá trị chung của 14 người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và Hội nhập của Phạm Minh Hạc [45]; Nghĩ về vai trò của Phật giáo trong cuộc sống của đất nước hôm nay của Nguyễn Đình Chú [22]; Phật giáo với sự nghiệp Giáo dục và đào tạo của Phạm Tất Dong [19]; Nền giáo dục Campuchia từ 1945 đến nay (hay Những nét lớn của tiến trình giáo dục) của Nát-Bun Rươn [70]; Ảnh hưởng của giáo dục Phật giáo trong tu viện đối với công tác giảm thiểu đói nghèo: Một nghiên cứu so sánh giữa Sri Lanca và Bangladesh của Tapan Barua [80]; Quy mô phúc lợi xã hội của Viên Phật giáo trong xã hội Hàn quốc hiện đại của Santosh K. Những nghiên cứu về hệ thống giáo dục Phật giáo Về HTGD Phật giáo - được xem như một chỉnh thể, trên thực tế, đây là vùng đất mới, chưa được giới nghiên cứu Phật giáo trong nước lẫn nước ngoài đào sâu, mở rộng, khai phá các nội dung mang tính liên ngành, liên môn.