CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ ÁP DỤNG ĐỊNH MỨC KINH TẾ - KỸ THUẬT TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1.1 Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác CTTL 1. Định mức kinh tế kỹ thuật Chúng ta đã biết định mức là tất cả những gì được quy định mang tính đúng đắn, hợp lý, cần thiết mà mọi người cần lấy đó làm căn cứ điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp. Với định nghĩa trên định mức có mặt trong ở nhiều lĩnh vực của đời sống như kinh tế, chính trị, pháp luật, tôn giáo, phong tục, tập quán, đạo đức, thẩm mỹ. Định mức xuất hiện trong kinh tế tức hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa của con người được gọi là định mức kinh tế-kỹ thuật.
Định mức kinh tế-kỹ thuật là đại lượng biểu thị trực tiếp hay dùng để tính toán lượng tiêu hao cần thiết của một loại nguồn lực nào đó để sản xuất một đơn vị sản phẩm, bảo đảm những yêu cầu nhất định về chất lượng và phù hợp với các nhân tố ảnh hưởng khách quan về địa chất tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ và tổ chức quản lý. Do đó, định mức kinh tế-kỹ thuật luôn luôn là một chỉ tiêu (một phạm trù định lượng), tức là biểu thị bằng những con số cụ thể. Định mức kinh tế kỹ thuật trong sản xuất là quy định mức hao phí cần thiết về vật liệu, nhân công và máy thi công để hoàn thành một đơn vị khối lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được xác định bằng cách tính trung bình tiên tiến của hoạt động sản xuất trong một phạm vi xác định (cho từng loại sản phẩm, trong từng doanh nghiệp, tại từng địa phương). Mức hao phí các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất được hiểu là các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực.
Mức hao phí các yếu tố sản xuất là số lượng hao phí từng yếu tố sản xuất để tạo ra một đơn vị sản phẩm.2 Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai CTTL Định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi: là các mức hao phí cần thiết về lao động, vật tư, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu để hoàn thành nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế theo kế hoạch được giao. Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi là mức hao phí được quy định để thực hiện một yêu cầu về quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi theo đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật và điều kiện thực tế của hệ thống công trình. Định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình quy phạm kỹ thuật về quản lý vận hành công trình thuỷ lợi do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và hiện trạng công trình, máy móc thiết bị, phương tiện quản lý của đơn vị. Vai trò, nội dung, phương pháp xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý công trình thủy lợi 1.
Vai trò định mức kinh tế kỹ thuật Định mức là một trong những nội dung quan trọng mà hầu hết chính phủ của các nước thường hay áp dụng. Ở Việt Nam công tác lập và áp dụng nhiều loại định mức khác nhau được Chính phủ công bố thực hiện nhằm hướng dẫn hoặc kiểm soát nhiều hoạt động kinh tế. Trên thực tiễn quản lý sản xuất trong bất cứ ngành kinh tế nào cũng cần có những loại định mức chuyên ngành khác nhau. Ví dụ trong ngành Xây dựng, rất nhiều định mức được xem là những tài liệu rất quan trọng cho các đơn vị trong ngành triển khai và áp dụng vào các hoạt động quản lý sản xuất.
Nhiều bộ định mức đã và đang được công bố áp dụng như: Định mức dự toán 8 xây dựng công trình (Phần xây dựng); Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình; Định mức dự toán xây dựng công trình; Định mức khảo sát xây dựng; Định mức vật tư trong xây dựng, … Trong ngành Giao thông, nhiều loại định mức KTKT được công bố áp dụng như: Định mức kinh tế - kỹ thuật quản lý, bảo trì đường thủy nội địa; Định mức kinh tế - kỹ thuật sửa chữa thường xuyên đường sông,… Trong ngành Thủy lợi, đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản thường áp dụng một số định mức công bố bởi Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý khai thác do điều kiện đặc thù trong quản lý ngành nên nhiều định mức KTKT cũng đã và đang được áp dụng tại nhiều đơn vị trong ngành, phục vụ cho công tác quản lý. + Đối với các tổ chức quản lý khai thác CTTL: Định mức kinh tế kỹ thuật là cơ sở để lập kế hoạch sản xuất, tài chính và chi phí hàng năm; Là cơ sở để giao khoán cho các xí nghiệp, cụm, trạm thuỷ nông, gắn kết quả với trách nhiệm của người lao động và bố trí, sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý, nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất và trách nhiệm của người lao động, gắn chế độ lương thưởng với kết quả sản xuất. Quản lý vận hành công trình theo đúng quy trình, quy phạm, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tuổi thọ công trình.
+ Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Định mức kinh tế kỹ thuật là căn cứ để thẩm tra, thẩm định kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính của đơn vị và là cơ sở để xây dựng đơn giá đặt hàng, giao kế hoạch, xác định giá gói thầu quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi theo Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ; Là căn cứ để nghiệm thu, thanh quyết toán chi phí quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi cho các đơn vị khi hoàn thành nhiệm vụ được giao.2 Nội dung định mức kinh tế kỹ thuật 1.1 Nội dung Định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi gồm nhiều loại định mức khác nhau. Bài trình bày này giới thiệu các loại định mức cơ bản, bao gồm: - Định mức lao động và đơn giá tiền lương Định mức lao động là lượng lao động được quy định để hoàn thành một đơn vị sản phẩm (hoặc khối lượng công việc), đúng tiêu chuẩn chất lượng trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhất định. Định mức lao động bao gồm định mức lao động chi tiết và định mức lao động tổng hợp. Định mức lao động chi tiết là hao phí lao động cần thiết (từ khâu chuẩn bị đến khi kết thúc) để hoàn thành một đơn vị sản phẩm hoặc một khối lượng công việc nhất định theo nhóm công việc trong từng công đoạn như một lần vận hành cống, một lần quan trắc, một lần tuần tra bảo vệ,.
theo đúng quy trình, nội dung công việc, điều kiện tổ chức và yêu cầu kỹ thuật quản lý vận hành công trình. Định mức lao động tổng hợp là lượng lao động cần thiết để quản lý vận hành một công trình, một hệ thống công trình theo từng vụ và cả năm. Định mức lao động tổng hợp được tính toán trên cơ sở định mức lao động chi tiết. Định mức lao động biểu hiện dưới 2 hình thức: - Mức thời gian: Lượng thời gian hao phí quy định tối đa phải hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm (hoặc khối lượng công việc), đúng tiêu chuẩn cho 1 hay 1 nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhất định.
- Mức sản lượng: Lượng sản phẩm (hoặc khối lượng công việc) quy định tối thiểu phải hoàn thành trong một đơn vị thời gian, đúng tiêu chuẩn chất lượng cho 1 hay 1 nhóm người lao động có trình độ nghiệp vụ thích hợp trong những điều kiện tổ chức, kỹ thuật nhất định. 10 - Định mức sử dụng nước: Mỗi loại cây trồng trong từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển đều yêu cầu đất trồng phải có một lượng nước hoặc một độ ẩm thích hợp. Lượng nước đó do mưa cung cấp, do nước ngầm bổ sung và do các nguồn nước tưới, nhưng đồng thời cũng lại luôn luôn mất đi do ngấm xuống tầng đất sâu và do bốc hơi từ mặt ruộng. Lượng nước mất đi trong thời gian sinh trưởng (từ khi gieo trồng đến khi thu hoạch) của cây trồng gọi là lượng nước hao và cũng là lượng nước mặt ruộng yêu cầu được tưới bổ sung để giữ ở ruộng một lượng nước hoặc một độ ẩm phù hợp với cây trồng.
Lượng nước cần mặt ruộng hay mức sử dụng nước tưới tại mặt ruộng là lượng nước yêu cầu tưới tại mặt ruộng trong các thời đoạn sinh trưởng của cây trồng. Định mức sử dụng nước là tổng lượng nước tối đa được sử dụng trên một đơn vị sản xuất đủ bảo đảm cho cây trồng, thủy sản nuôi sinh trưởng và phát triển bình thường. Nước lấy từ công trình thủy lợi chủ yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, vì vậy đơn vị tính định mức sử dụng nước thường tính bằng m3/ha-vụ tại mặt ruộng. Định mức sử dụng nước được tính toán dựa trên các điều kiện về đất đai, thổ nhưỡng, điều kiện thời tiết và đặc điểm sinh trưởng phát triển của loại cây trồng và loại thủy sản nuôi trồng.
Định mức sử dụng nước thường xây dựng cho các đối tượng sử dụng chính như lúa, màu, thủy sản. Các loại đối tượng sử dụng khác thường được tính quy đổi về lúa theo khối lượng nước sử dụng - Định mức tiêu hao điện năng: Định mức tiêu thụ điện năng của trạm bơm (hoặc 1 loại máy bơm) là tổng lượng điện năng tiêu hao cần thiết để bơm nước tưới , tiêu cho 1 đơn vị diện tích đáp ứng định mức sử dụng nước. Đơn vị tính định mức điện cho bơm là Kwh/ha-vụ. Định mức điện tưới thường được tính cho các đối tượng 11 sử dụng nước chủ yếu là lúa, hoa màu và cấp nước nuôi trồng thủy sản.
Các đối tượng sử dụng nước khác có thể được tính quy đổi về tưới lúa theo khối lượng nước sử dụng. - Định mức sửa chữa thường xuyên tài sản cố định; Sửa chữa thường xuyên (SCTX) tài sản cố định (TSCĐ) là tu sửa, nạo vét, bồi trúc, thay thế các bộ phận công trình, kênh mương, nhà xưởng, máy móc thiết bị bị hư hỏng nhỏ, bồi lấp nhưng chưa ảnh hưởng đến năng lực hoạt động của công trình.