CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE TINH HÌNH QUAN LÝ DỰ ÁN XÂY DỰNG PHỤC VY TƯỚI TIÊU CHO PHÁT TRIÊN NÔNG NGHIỆP.1 Quản lý de án xây đựng Quan lý dự án xây dựng là một vin để khá mới đối với Việt Nam trong những năm gn đi „so với các nước trên Thể giới quản lý dự án xây dựng đã được nghiên cứu từ rất lâu và đã thành công với những dự án như Kim tự tháp Ai Cập, Vạn lý tường thành Trung Quốc. Tir những năm 50 trở Iai đây, cùng với sự phát triển như vũ bao của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, các nước đều cổ gắng nâng cao sức mạnh tổng hợp của "bản than nhằm theo kip cuộc cạnh tranh toàn cầu hóa. Chính trong tiến trình này, các tập đoàn doanh nghiệp lớn hiện đại hóa không ngừng xây dựng những dự án công tình quy mô lớn, kỹ thuật cao, chất lượng tốt. Dự án đã trở thành phần cơ bản trong cuộc sống xã hội.
Củng với xu thé mở rộng quy mô dự án và sự không ngừng nh độ khoa học công nghệ ác nhà đầu tư dự án cũng yêu cầu ngày cảng cao đối với chất lượng dự án. Vì thể, quản lý dự án xây dựng trở thành yếu tổ ‘quan trong quyết định sự tồn tại của dự án" (Quan lý dự án xây dựng thường chia ra 3 giai đoạn: Giai đoạn chun bị đầu tr, giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn triển khai dự án), giai đoạn kết thúc xây dựng (giai đoạn vận hành khai thác). Trong dé giai đoạn quan lý vận hành khai thắc giữ ai t quan trọng trong việc phát huy hiệu quả của các công h thủy lợi (CTTL). Hàng năm nhà nước đầu tư hing ngàn tỷ đồng cho công tác quản lý vận hành khai thác cúc hệ thẳng thủy lợi (HTL), tuy nhiên hiệu quả đạt được chưa tương xứng với quy mô đầu tư và tiềm năng của các công trình thủy lợi.
Đặc biệt là công. tác quản lý các công trinh cin nhiều King túng, bắt cập do cơ chế tổ chúc quản lý thủy nông chưa rõ rằng và thiếu ôn định, phin nào còn mang tính bao cắp. cáo đánh giá của Bộ NN & PTNT thì có các “Nguyên nhân tồn tại trong công tác «quan lý công trình thay lợi” như: - Đầu tự cho công tác xây dụng sửa chữa nâng công trình thủy lợi chưa đồng bộ và khép kín từ đầu mối đến mặt ruộng. + Chưa chi trọng đầu tr tran thếtbị quản lý (Mới đầu tr đt từ 0,7 ~ L6, quy định từ 3-1.) - Tổ chức quản lý khai thắc công kênh, kém hiệu lực = Tổ chức hộ dùng nước ở một số địa phương còn bị bỏ ngỏ, chính quyển địa phương chưa quan tâm để phát trién loại tổ chức này.
- Nguồn lực phát triển chưa tương xứng với yêu cầu (Có hơn 20% công nhân ‘quan lý vận hành khai thác thủy nông chưa được đảo tạo) Để g6p phần ning cao hiệu quả quản lý dự án, đặc biệt giai đoạn vận bình khai thác công trình việc nghiên cứu để xuất các giải pháp quản lý dự án công trình thủy lợi giải đoạn đưa vào khai thắc vận hành có ÿ nghĩa quan trọng trong thực hiện ‘quan lý dự án đầu tư xây dựng công tinh, nâng cao hiệu suất điều hành hệ thống, hiệu qua của hệ thống, tir đỏ thúc đẩy phát triển kinh tế và ổn định xã hội.L2 Tình hình phát tiễn hồ đập ở Việt Nam phục vụ tưới tiêu, phục vu cho ông nghiệp (hệ thống thủy nông) TH năm 1955 đến nay sự nghiệp thủy lợi nước ta phittrién ngày cảng mạnh mẽ, nhất là từ sau ngày giải phóng miền nam 1975. Những thành tựu do thủy lợi đạt được như sau: = Phục vụ sản xuất nông nghiệp. Năm 1945 cả nước mới có 13 hệ thống thủy nông (HTTN) vừa và lớn tập trang ở các tỉnh Trung du, Đẳng Bằng Bi Bộ, khu 4 cũ, Duyên Hải miền Trung cùng với một số kênh lạch tạo nguồn ở Déng Bằng sông Cửu Long (DBS 1U) với tổng năng lực tưới mới dat 324.900 ha, tiêu mới dat 77. Tính đến năm 2000 cả nước đã xây dựng được trên 80 hệ thống thủy nông vừa - lớn va hing nghìn CTTL nhỏ, trong đó có: Gần 500 hồ đập lớn có dung tích trên 1 triệu m’ nước hoặc có đập cao trên 10 m hoặc công trình xả lũ trên 2000 m'vs (phân.
loại theo tiêu chuẳn của IOCLD), Voi số lượng này Việt Nam đứng thứ 15 trên thé giới sau Trung Quốc, Mỹ, An Độ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Canada, Hàn Quốc, Thỏ Nhĩ Kỳ, Braxin, Pháp. Nam Phi, Mehico, Ialia, Anh. Hồ chứa thủy nông có dung tích chứa lớn nhất là Dầu Tiếng: 1.580 tiệu mÌ, tiếp đó là Kẻ Gỗ: 425 triệu mÌ, Phú Ninh: 344 triệu mÌ, Cm Sơn: 338 triệu m`, Núi Cốc: 175,50 triệu mÌ.1: Quang cảnh Hỗ Đầu Tiéng Va cho đến nay the số liệu điều tra nước ta đã xây dựng được: 6.000 trạm bơm điện lớn, 5000 cổng, 255,000 km kênh muon", Bảo đảm tưới cho 7.65 triệu ha bia (2.89 triệu ha kia Đông Xuân, 225 triệu ha lúa Hệ thu, 251 triệu ha lúa Mùa), tiêu 1,72 triệu ha đất nôt thiệp, ngăn mặn cho 87 vạn ha, cải tạo chua phén 1,6 triệu ha, ip nw cho sinh hoạt và sản x i công nghiệp trên 5 tỷ m'/ndm, diện tích rau mẫu và cây công nghiệp ngắn ngày được tưới không ngửng, tăng lên, hiện nay đã đạt | triệu ha. Tuy nhí nhí nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động của các HTTN hiện nay cỏn ở mức thị „ mới chỉ đạt 55 5% so với năng lực thiết kể.
Vi dụ ở tỉnh Điện Biên: Tỉnh Điện Biên hiện có 836 CTTL vừa và nhỏ. Thực té cho thấy khá nhiều công trình có hiệu quả khai thác rất thấp, nếu tính riêng những công trình do cắp tinh quản lý, chỉ khoảng 20% đạt ct qu thết kế Hau hết các hệ thống CTTL ở nước ta được xây dựng từ những thập ky 60 đến. 30 của thể kỳ trước. Khi đó, nguồn kinh phi cỏ hạn, kho học kỹ thuật và công nghệ mới chưa phát tri, Khi công trình đưa vào vận hành khai thác, nguồn kinh phí tu bổ, sửa chữa hang năm đều trông vào nguời thủy lợi phí.
Mức thu thủy lợi phí không đủ để trang trải chỉ phí vận hành, tu bé công trình. Sau nhiều năm các công ty, xf nghiệp thủy nông (XNTN) hoạt động thu không đủ chí nên công trình ngày một xuống cấp. Nhiễu trục kênh tưới iêu lớn không có kinh phi nạo vét đã bỗi lắng nghiêm trong, giảm ding ké khả năng din nước, Ở vùng ĐBSCL, đã đầu tư xây dmg nhiều hệ thing thủy lợi lớn như Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, Tây Sông Hau. đã góp phần mở rộng điện tích lúa hai vụ.
Nhưng ở nhiều công trình mới xây dưng được các uyễn kênh chính, còn thiểu công tình điều tết và hệ thống kênh mương cắp dưới và công tác quản lý vận hành chưa tốt nên da hạn chế năng le tưới và thoát nước, “Trong qua trình đô thị hoa, công nghiệp hóa đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới vận hành của các CTTLnhư giảm diện tích tưới, nhưng lại tăng cao nhụ cầu tiêu thoát nước. Nguồn nước thải tir các nhà máy, khu công nghiệp, làng nghề, khu đ thị cổ nhiều chất độc hại chưa được xử lý đều đổ xuống hệ thống kênh mương nước tưới cho cây trằng mà điển hình là các hệ thống sông Clu, sông Nhu Đồng Nai, sông Thị Vải Vai trò của người din trong việc xây dựng, vận hành và quản lý công trình thủy lợi chưa được quan tâm đúng mức, quy định rõ rằng. nhiều nông din thậm chí chưa hiểu được ý nghĩa của việc đóng thủy lợi phi, họ coi CTTL trên đồng muộng của họ là của Nhà nước chứ không phải ti sản chung của cộng đồng mà trong đó họ là người trực tiếp hưởng lợi 2. VỊ tí, val rd cũa hệ thống thủy nông trong công cuộc phát triển kinh tẾ và ‘dn định xã hội Cho đến nay, Việt Nam cơ bản vẫn là một nước nông nghi nông nghiệp là khu vực sản xuất vật chất chủ yêu thu húttới 70,5% lực lượng lao động xã hội và làm ra khoảng 23.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm trồng trọt, chăn môi, chế biển, lâm nghiệp, ngư nghiệp. tắt cả các hoạt động này đều rit cin có nước. Vì vậy, tong điều kiện nước ta công tác thủy lợi có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc phát triển kinh tế, cũng như phát triển xã hội, ôn định dân cư, bảo vệ môi trường sinh thai! Hệ thống thủy lợi từ lâu là yếu tổ quyết định đến sự phát triển sản xuất nông nghiệp, tắc động to lớn đến điều kiện dân sinh kinh tế xã hội của đắt nước. én nông nghiệp ngoài sin xuất ra lương thực, thực phẩm cho xã hội còn cung cắp những nguyên liệu cin thết cho các ngành công nghiệp và đồng góp gin 30% tổng thu nhập quốc din, Vi vậy mà Đăng và nhà nước xác định: "Nông nghiệp là một ngành sản xuất trong nén kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay” Đảng và nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác phát tiển thủy lợi “Trong đường lối và chiến lược phát tiễn kinh tế xã hội, Đại hội Đăng toàn quốc lin thứ IX đã sác định “Tăng cường sự chỉ đạo và luy động các nguồn lực cần tide để ay nhanh công nghiệp hỏa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Tiếp tue phát triển đưa nông nghiệp, lim nghiệp, ngư nghiệp lên một trình độ mới bằng ứng dựng tiến bộ Khoa học và công nghệ nhất là công nghệ sinh học; đẫy mạnh thủy lợi hảa Đo điều kiện dia lý và khí hậu thoi it, nước ta là một trong những quốc gia có nguồn tài nguyên nước (TNN) khá dồi dio tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, dân sinh và kinh tế xã hội. Tuy nhiên nguồn nước mặt sản sinh trên lãnh thổ nước ta chỉ chị “Thể giới), còn lại là nước tạo thành trẻ chiếm 61% (xếp hạng thứ 12 trên Thể Theo tính toán của các nhà khoa học, nhu edu sử dụng nước phục vụ dân sinh kinh tế - xã hội của cả nước đến năm 2040 là 260 tý m’, nguồn tải nguyên nước lại phân bỗ không đều theo thời gian và không gian, nên việc khai thắc sử dụng nước gặp không ít khó khăn. Do vậy, sử dụng nguồn nước có hiệu quả va tiết kiệm là nhiệm vụ quan trong hàng đầu của công tác thủy lợi Nhờ có các CTL phục vụ tới têu cho nông nghiệp mà năng suit, sản lượng lương thực không ngừng tăng lên.