CHƯƠNG 1: TÔNGQUAN VE CHAT LƯỢNG HO SƠ THIET KE VÀ QLCL THIET KE CONG TRINH THỦY LỢI 1. Chất lượng công trình và chat lượng thiết kế công trình thủy lợi 1. Khái quát chung về công trình xây dựng 1. Khái niệm công trình xây dựng và công trình thủy lợi Công trình xây dựng (CTXD) là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thé bao gồm phan dưới mặt dat, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phan trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT), công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác. [6] Công trình thủy lợi là công trình được xây dựng nhằm mục đích sử dụng nguồn nước. Nhiệm vụ chủ yếu của các công trình thủy lợi là làm thay đổi trạng thái tự nhiên dòng chảy của sông hồ, biển, nước ngầm dé sử dụng nguồn nước một cách hợp lý có lợi nhất và bảo vệ môi trường xung quanh tránh khỏi những tác hại của nguồn nước đó gây nên. Công trình thủy lợi có thể làm hình thành dòng chảy nhân tạo để thỏa mãn nhu cầu dùng nước, khi dòng chảy tự nhiên ở nơi đó không đủ hoặc không có.
Đặc điểm của ngành xây dựng [7] Xây dựng cơ bản (XDCB) là ngành sản xuất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản có định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế và quốc phòng của đất nước. Hơn thế nữa, đầu tư XDCB gắn liền với việc ứng dụng các công nghệ hiện đại do đó góp phần thúc đây sự phát triển của khoa học kỹ thuật đối với các ngành sản xuất vật chất. Nó có tác động mạnh mẽ tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân nói chung và quỹ tích luỹ nói riêng với vốn đầu tư, tài trợ của nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực XDCB. So với các ngành sản xuất khác, XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, được thê hiện rat rõ ở sản phâm xây lap và quá trình sáng tạo ra sản phâm của ngành. 3 Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu dai, có giá trị lớn đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiễn bộ xã hội dé tránh bị lạc hậu. Phong cách kiến trúc và kiêu đáng mỗi sản phâm cần phải phù hợp với văn hoá dân tộc vùng miền, quốc gia.
Trên thực tế, đã có không ít các công trình xây dựng trở thành biểu tượng của một quốc gia như chùa Một cột ở Hà nội, tháp Ephen ở Pari. và do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý. Nó không chỉ ảnh hưởng tới tuổi thọ của công trình vmà còn ảnh hưởng tới sự an toàn cho người sử dụng. Sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chính trị, kế toán, nghệ thuật.
Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá tri dự toán riêng va tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phâm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản pham hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Những đặc điểm này có tác động lớn tới giá trị sản xuất ngành xây dựng. Sản phẩm xây dựng là sản phẩm đơn chiếc và được tiêu thụ theo cách riêng. Các sản phẩm được coi như tiêu thụ trước khi được xây dựng theo giá trị dự toán hay giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) do đó tính chất hàng hoá của sản phâm xây lắp không được thê hiện rõ bởi vì sản phẩm xây lắp là hàng hoá đặc biệt.
Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài. Nó phụ thuộc quy mô và tính chất phức tạp thuật của từng loại công trình. Không những thế quá trình thi công được chia thành các giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nang, lũ, lụt. đòi hỏi các nhà xây dựng phải giám sát chặt chẽ những biến động của thiên nhiên dé hạn chế những ảnh hưởng xấu của nó đến mức thấp nhất.
Chất lượng công trình xây dựng 1. Các quan niệm về chất lượng Trong cuộc sông con người, khái niệm chât lượng sản phâm đã có từ lâu, đây là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Trong chiên lược phát triên của mỗi ngành nghê, của các công ty dựa vào nhu câu của thị trường đêu có những quan niệm về chat lượng riêng cho minh. Theo quan điểm triết học, chất lượng của sự vật, hiện tượng, tính chất là tính xác định bản chất nào đó mà nó khăng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thé khác.
Chất lượng của khách thé không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gan chặt với khách thé như một khối thống nhất bao trùm toàn bộ khách thé đó. Theo quan điểm này thì chat lượng đã mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tượng, nó không phù hợp nhu cầu của thực tê. Một quan điểm khác về chất lượng cũng mang một tính chất trừu tượng là chất lượng theo quan điểm này được định nghĩa như là sự đạt một mức độ hoàn hảo mang tính chất tuyệt đối. Chất lượng là một cái gì đó mà làm cho mọi người mỗi khi nghe thấy đều nghĩ ngay đến một sự hoàn mỹ tốt nhất, cao nhất.
Đây là một khái niệm còn mang nặng tính chất chủ quan, cục bộ và quan trọng hơn, khái niệm này về chất lượng vẫn chưa cho phép ta có thể định lượng được chất lượng. Vì vậy, nó chỉ mang một ý nghĩa nghiên cứu lý thuyết mà không thể áp dụng trong hình thức kinh doanh. Một quan điểm thứ 3 về chất lượng theo định nghĩa của W.Shemart, một nhà quản lý người Mỹ, là người khởi xướng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vấn đề về chất lượng và QLCL. Shemart cho rang “Chất lượng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó”.
So với những khái niệm trước đó về chất lượng thì ở khái niệm này, Shemart đã coi chất lượng như là một van đề cụ thé và có thé định lượng được. Theo quan điểm này thì chất lượng sản phẩm sẽ là một yếu tố nào đó tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm và vì tồn tại trong các đặc tính của sản phâm cho nên chất lượng sản phẩm cao cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sản phẩm những đặc tính tốt hơn phan ánh một giá trị cao hơn cho sản phẩm và như vậy chi phí sản xuất sản pham cũng cao hơn làm cho giá bán của sản pham ở một chừng mực nao đó khó được người tiêu dùng và xã hội chấp nhận. Do vậy, quan điểm về chất lượng này của Shewart ở một mặt nào đó có một ý nghĩa nhất định nhưng nhìn chung đây là một quan điểm đã tách rời chât lượng với người tiêu dùng và các nhu câu của họ. Nó không thê thoả mãn được các điều kiện về kinh doanh và cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.
[8] Quan điểm thứ 4 về chất lượng xuất phát từ phía người sản xuất. Theo họ quan điểm này, chất lượng sản phẩm là sự đạt được và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước trong khâu thiết kế sản phẩm. Theo quan điểm này, chất lượng gắn liền với van đề công nghệ và dé cao vai trò của công nghệ trong việc tạo ra sản phâm với chất lượng cao. Quan điểm này cho rằng “chất lượng là một trình độ cao nhất mà một sản phẩm có được khi sản xuất”.
Do xuất phát từ phía người sản xuất nên khái niệm về chất lượng theo quan điểm này còn có nhiều bất cập mang tính chất bản chất và khái niệm này luôn đặt ra cho các nhà sản xuất những câu hỏi không dễ gì giải đáp được. Thứ nhất, do đề cao yếu tố công nghệ trong van dé sản xuất mà quên đi rằng van đề sản phâm có đạt được chất lượng cao hay không chính là do người tiêu dùng nhận xét chứ không phải do các nhà sản xuất nhận xét dựa trên một số cơ sở không đầy đủ và thiếu tính thuyết phục, đó là công nghệ sản xuất của họ, thứ hai, câu hỏi đặt ra cho các nhà sản xuất là họ lay gi dé dam bảo rang quá trình sản xuất được thực hiện trên công nghệ của họ không gặp một chở ngại hay rắc rối nào trong suốt quá trình sản xuất và một điều nữa, liệu công nghệ của họ có còn thích hợp với nhu cầu về các loại sản phẩm cả sản phâm cùng loại và sản phẩm thay thé trên thị trường hay không. Như vậy, theo khái niệm về chất lượng này các nhà sản xuất không tính đến những tác động luôn luôn thay đổi và thay đổi một cách liên tục của môi trường kinh doanh và hệ quả tất yếu của nó, trong khi ho đang say sưa với những sản phẩm chất lượng cao của họ thì cũng là lúc nhu cầu của người tiêu dùng đã chuyên sang một hướng khác, một câp độ cao hơn. Đề khắc phục những hạn chế tồn tại và những khuyết tật trong khái niệm trên buộc các nhà quản lý, các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đưa ra một khái niệm bao quát hơn, hoàn chỉnh hơn về chất lượng sản phẩm, khái niệm này một mặt phải đảm bảo được tính khách quan, mặt khác phải phản ánh được vấn đề hiệu quả của sản xuất kinh doanh mà chất lượng của sản phẩm chất lượng cao sẽ mang lại cho doanh nghiệp, cho tô chức.
Cụ thé hon, khai niém vé chat lượng san phẩm này phải thực sự xuất phát từ hướng người tiêu dùng.