Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu hỗ chứa và ứng dụng lý thuyết độ tin cây để đính giá an toàn công trình thủy lợi; “Chương 2: Cơ sở lý thuyết để đánh giá an toàn công tinh đầu mốt hỗ chứa nước; “Chương 3: Phin ch và đính giá an toàn công tình dẫu mốt hỗ chứa thủy lại theo độ tin cậy; Chương 4: Đánh giá mức độ an toàn công trình đầu mỗi hd chứa nước Phi Quảng Nam, CHUONG1 TỎNG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CUU HO CHUA VA UNG DỤNG LY THUYET ĐỘ TIN CAY DE ĐÁNH GIA AN TOAN CONG TRINH THỦY LỢI 1. Đầu mỗi hồ chứa thủy lợi Vigt Nam LLL Hiện trạng các đầu mối hỗ chứa thấy lợi Việt Nam Đầu mỗi hỗ chứa thủy lợi là tập hợp nhiễu công tình như: đặp dâng, công tinh tháo 1i, công tình lấy nước và các công tình chuyên môn phân bổ trên một phạm vi nhất định để cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ đặt ra như: phòng lĩ cho hạ du, tưới. phát điện, cấp nước sinh hoạt và công nghiệp và các lĩnh vực khác: nuôi trồng thủy sản, vệ sinh sức khe, thể thao, giải tr, 1. Các hệ thẳng hồ và liên hỗ ‘Vigt Nam có khoảng 2360 con sông lớn nhỏ và 14 lưu vực sông lớn trong đó có nhiều sông liên quốc gia, trên các hệ thống sông suối rit nhiều hệ thống hồ chứa nước đã được hình thành.
Tính đến tháng 10 năm 2015, Việt Nam đã xây dựng được 6886 hồ chứa thủy lợi, thủy điện, trong đó chiếm phần lớn (96,5%) là các hd thủy lợi có dung. tích vừa và nhỏ [1]. Tuy nhiên các hồ phân bố không đều trên cả nước, tập trung nhiều. ở các tinh miễn núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ (chiếm 64% số lượng hỗ của cả nước), một số tinh có nhiều hồ như Nghệ An, Thanh Hóa, Đắk Lắc, Hòa Bình, Bắc Giang, “Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Lang Sơn.
được thể hiện ở đồ thị hình 1-1 [2], [3] sónô 200 § 8 3 ant An” Thanh “ĐÖ3Ốc HôeBnhĐắcOang Tuyển "HA Tan Lang Son b chang "Hình 1-1. Phân bồ số lượng hỗ chứa thuỷ lợi, thuỷ điện ở các tỉnh có nhiễu hỏ.10° nt (3) Các hồ có VP nt SW, <3. Tỷ lý các hỗ theo dung tíh [3] “Các hồ chứa nước được xây dựng trên cũng một hệ thống sông có liên quan ảnh hưởng lẫn nhau vé mặt an toàn hình thành nên những hệ thống hỗ, căn cứ vào sự hình thành số thể khái quit hệ thống hồ Việt Nam thành hai nhóm bệ thống: hệ thống có xết đến «quan hệ cần bing nước trên lưu vực sông và hệ thống không xét đn quan hệ cân bằng nước. Hệ thông có xét đến quan hệ cân bing nước trên lưu vục sông: là những hệ thống hồ được xây dựng theo một quy hoạch có đầy đủ cơ sở khoa học như các hệ thống hồ bậc thang thủy diện, hệ thống liên hồ thủy lợi, liên hồ đa mục tiêu.
Hệ thống không xét đến quan hệ cân bằng nước: là những hệ thống có nhiễu hỗ được xây dựng một cách tự phá hơn là các bồ được xây dụng theo quy hoạch. Một cách ngẫu nhiên, theo các nhánh subi hình thành những hệ thông hồ đập có quan hệ và ring buộc về khai thác hoặc v vận hành tháo lũ “Các công trình đầu mỗi hồ chứa hiện hữu ở Việt Nam có chất lượng không đồng đều, dang bi xuống cấp, tổn tại cả những công finh xuống cấp nghiêm trong, nhiễu công đ n lúc phải sửa chữa, nâng cấp. Phân tích số liệu điều tra an toàn hỗ chứa [1], L4], thấy rằng mức độ hư hỏng của các công tình đầu mỗi ở các hồ vừa và nhỏ nhiều hơn đáng kể so với các hồ lớn. Các đánh giá về thực trạng các hồ chứa nước năm 2015 {2}, cũng có kết quả tương tự, các hồ cin phải nâng cắp sửa chữa là các hỗ có dung tích nhỏ luôn chiếm tỷ lệ lớn hơn.
Trong tổng số 1150 hồ chứa cần phải nâng cắp sửa. chữa vì bị hư hỏng và thiếu năng lực xã lữ các hồ có dung tích lớn V210.109" chiếm một lượng lớn 687%. Ngoài ra còn có khoảng 2500 hi chứa có dung tích nhỏ hơn 0,2.10°n" nằm phân tán ở nhiều nơi do địa phương quản lý không có số liệu để đánh giá. Một điểm tổn tại nữa của các đầu mỗi hồ chứa ở Việt Nam hiện nay là chưa được đầu tw đẳng bộ để trở thành một hệ théng hoàn chỉnh, trừ một số các dp cao từ SOm trở lên đã được lắp đặt và tổ chức quan trắc tương đối dy đủ theo quy định.
Các đập thắp hơn, nhiều đập không đặt thiết bị quan tric hoặc chỉ quan tắc một phần. Tình trang này ở các hỗ thủy lợi phổ biển hơn là ở hỗ thủy đi Cong tác quan trắc ở 54 hỗ thủy điện và 551 hồ thủy lợi có đập cao 15+50i, dung tích hỗ WW, > 310°n”, mức đầu tư trang thiết bị, cơ sở hạ tầng phục vụ công tác quản lý, phục vụ cứu trợ khẩn cấp còn thấp, chưa đủ đáp ứng yêu cầu của các quy định vé an toàn đập [4] 1. Các thành phần công tình di méi hỗ chứa ở Việt Nam 1. Đập dâng "Đập dâng là công tình chin ngang sông, được xây dựng để dâng cao mực nước hoặc tích nước tạo thành hồ chứa.
Vật liệu tạo thành đập là đất, đá, tông, bê tổng cốt thép, gỗ, cao su, tuy nhiên đập ở các hỏ chứa nước Việt Nam chú yếu được xây dựng. theo hai loại vậ liệu là vật liệu địa phương và bê tông. 4) Đập vậtliệu địa phương Che đập vậtliệu địa phương bao gồm: Đập đt, đập đắt đá hỗn hợp. dip đá đổ, đập đá đằm nén có bản mặt bê tông cét thép.
Cho đến nay, các đập dâng tạo hd chứa ở Việt Nam chủ yêu là đập dit. Nhũng dip có chiều cao trong khoảng 252 50m chiếm da số như đập Dai Lái, Núi Cổc, Suối Hai, Cắm Sơn, Sông Rác, Phú Ninh, Cả Giây, Ayun Hộ,. Đập có kết cầu ba khối đất đá cao nhất Việt Nam hiện nay là đập Tả Trạch ở "Thừa Thiên Huế cao 60m. “rong số các đập vật liệu dia phương đã được xây dựng ở Việt Nam, dip đã đồ có số lượng ít hơn nhưng lại có chiều cao lớn hơn đập dit.
Một sé dip đí đỗ có quy mô lớn 7 ở Việt Nam như đập Thác Bà cao 48m, dp Yaly cao 60m, đập Hòa Bình cao 123m. Ba đập này có quy mô khác nhau nhưng có cùng dạng kết cầu đập đá đỗ có kết cầu chống thắm là tường tâm bằng đất st "Đập da dim nền có bản mặt bằng bê tông cốt thép ra đồi vào những thập niên cuối của thé ky XX. Ưu m chính của loại đập này là da được dim chit, khắc phục được hiện tượng biển dạng nhiều của đập đá đổ truyền thong và bản mặt bê tông cốt thép có khả năng chống thắm cao. Việt Nam đã xây dụng các đập loại này như dip Rao Quần cao 78m, đập Tuyên Quang cao 92m, đập Cửa Đạt cao 115,3m, Ua điểm của đập vật liệu địa phương là sử dụng đất.
đá là các vật liệu ti chỗ, có thé thi công bằng biện pháp thủ công và biện pháp cơ giới. Nó cũng là loại đập được phát triển sém nhất tên thể giới nên kĩ thuật xây dựng loại đập này đã ích lũy được nhiều kinh nghiệm, Vi phải sử dụng một khối lượng vậtliệu đắt đá lớn nên khi thi công thường gặp nhiều khó khan trong việc kiểm soát chit lượng vật iệu dip dip theo yêu cầu thiết kế. Mặt khác vật liệu đất rất nhạy cảm với độ dm của môi trường không khí nhất là đt giàu hàm lượng sét như đất ở Tây Nguyên và ở Nam Trung Bộ. Khí hậu nhiệt đói gió mùa ở Việt Nam cũng là một tử ngại lớn đối với việc thi công dap vật ligu địa phương.
Do chịu ảnh hưởng của thời tiết cũng như công tác dẫn dòng nên tiến độ thi công loại đập này thường gặp rủi rõ, nhiều đập đã phải kéo dài thời gia thi công. Những bạn chế này là những nguyên nhân tiém dn, rit khó kiểm soát, có thé dẫn đến sự có vờ đập. 8 b) Đập bê tông Hình 1-5. Đập vom Nam Chin Vật liệu chủ yếu để xây dựng loại đập này là bê tông.
Hai kiểu đập bê tông đã được dùng ở Việt Nam là đập bê tông trọng lực và đập vom, Đối với các đập có chiều cao lớn, dạng đập bê tông được sử dụng nhiễu. Theo tổng kết của hội đập lớn thé giới, trong số các dp đã và đang xây dựng có chigu cao từ 100m ‘wa lên thi đập bê tông chiếm wu thé (COLD - 1986). Đập bê tông trọng lực ngăn sông tạo thành hỗ chứa đầu tiên ở nude ta là đập Tân Giang ở tỉnh Ninh Thuận cao 37,5m. Một trong những ải tiến 6 giá trị tong lịch sử phát iển đập bê tông trong lực là ứng cdụng công nghệ bê tông đầm lin vào xây dựng đập.
Tuy mai đến những năm cuỗi của thể ky XX, công nghệ đập bê tông đầm lăn mới được Việt Nam áp dụng, nhưng cho. đến năm 2013 Việt Nam xây dựng được 24 đập bê tông trọng lục dim lăn. Vig m được xếp vào hing thứ bảy cia thé giới về tốc độ phát triển đập bê tông dim lăn “Trong số các đập bê tông dim lăn đã xây dựng, có nhiều đập có chiều cao hơn 100m như: đập thủy điện Sơn La cao 138m, đập Bản Vẽ ở Nghệ An cao 137m [5]. 9 Kiều đập bê tông thứ bai dang được áp dung vào Việt Nam là đập vòm.
Do có cầu tạo dang vòm, mat cất ngang đập vom mảnh hơn, nên sử dụng ít bê tông hơn đập bê tông trọng lực, do đó có hiệu quả hơn về mặt kinh tế xây dựng, Mặt khác, cầu tạo dang vòm. có nhiều ưu điểm về khả năng chịu ti nên ở những nơi vi lòng sông thích hợp, đập vom đã được wu tiên lựa chọn để xây dựng những đập có chiều cao lớn. tiên được xây dựng ở Việt Nam là đập vom Nam Chiến cao 135m trên suối Nam “Chiến, một phụ lưu của sông Đà. Dip bê tông dùng vit igu bê tong nên dễ kiễm soát chất lượng tong quá tình th công hơn so với đập dùng vật liệu đất đá, Mặt khác việc bổ trí mặt bing tổng thé cũng như.
công tác dẫn dong và phòng lũ trong quá trình thi công thuận lợi hơn đập vật liệu dja phương, [huge diém cơ bản của dp be ting là có kết cầu be tông Khối tông đ bị nứ do ác động của ứng suất nhiệ.