CHƯƠNG 1: TONG QUAN 1.1 Khái quất về Đài nước Việc cung cắp nước sạch và đảm bảo vệ sinh môi tường đang là vẫn đề cần giải quyết ở nước ta hiện nay. Trong các hệ thống cấp nước tập trung hạng mục công trình không thể thiểu đó là tạo áp lực nước trong đường ống để dẫn để nơi tiêu thụ. Hiện nay các hệ thống cắp nước tạ đô thị, các khu công nghiệp với phạm vi cung cắp nước rộng, lưu lượng tiêu thụ nước lớn, liên tục nên việc tạo áp lige nước trong đường ông thường sử dụng các loại bơm tăng áp, bơm, tram bơm tăng p có bình điều áp bằng khí nền thay cho đãi nước tr nhiên tại các hệ thống cắp nước tập trang ở nông thôn do phạm vi cấp nước hẹp, lượng nước tiêu thụ ít và chủ yếu vào những giờ cao điểm nhất định nên việc sit dụng di nước để tạo dp lục và điều tiết lượng nước cấp vẫn là giải pháp được lựa chọn nhiều nhất vì chúng có những ưu điểm như sau: ~ Tạo được cột nước áp lực ôn định trong phạm vi cấp nước của công trình. - Điều tết lượng nước cắp đối với những giờ cao điểm, là nguồn dự trữ sử dụng những giờ thấp điểm cho các hộ tiêu thụ.
= Tạo điểm nhắn kiến trúc không gian trong khu vực nông thôn. Giảm chỉ phí trong quá trình vận hành khai thác công trình sau đầu tr.2 Hiện trạng xây dựng Đài nước trên thé giới và ở Việt nam “rên thé giới sử dụng đài nước đã có tử lu. Dai nước ha gọi là tháp nước là một kết edu trữ nước được dt trên cao nhằm gây áp lực lên hệ thống cắp nước phân phối nước sinh hoạt và tích nước để cung cấp khẩn cắp cho phòng cháy chữa cháy: Các loại đi nước nói chung chỉ để lưu trữ nước hô (không wong). nước phòng cháy chita chây hoặc các mục dich công nghiệp, và có thé không cần phải kết nổi với một nguồn cung cấp nước công cộng "Đài nước có thể cung cấp nước ngay cả khi mắt điện, vi dựa o áp lực thủy ra bởi độ cao của nước (do trọng lực) để đầy nước vào bi nước sinh hoạt và công nghiệp.
Một dai nước cũng phục vụ như một hồ chứa để sánh vác nhu cầu đùng nước trong thời gian sử dụng cao điểm. Nước trong đài thưởng được sử dụng vào các giờ sử dụng cao điểm trong ngày, sau đó sử dụng máy bơm bơm nước lên dai vào những giờ thấp điểm. Với đài nước làm việc trong vùng bảng giá, quá trình này cũng giữ cho nước không bị đóng băng trong thời tết lạnh, do nước trong đài được iên tục được xả và nạp lại Đài nước tại Kuwait City - Kuwait Đài nước Louisville — Hoa Ky Hình I. I: Một vai Dai nước trên thé giới Việc sử dụng các bể chứa nước đặt trên cao đã tồn tại từ thời cỗ đại dưới các hình thức khác nhau, Tuy nhiên đến thể ky 19, khi máy bơm hơi nước trở nên phd biển, dai nước được sử dụng cho các hệ thống nước công cộng để gây áp lực, đài nước càng được phát triển khi dng dẫn tốt hơn có thể chịu áp suất cao hơn.
Nhiều dai nước bây giờ được coi là có ý nghĩa lịch sử, và đã được đưa vào. danh sich di sản khác nhau trên thé giới. Một số được chuyển đổi thành căn hộ hoặc căn hộ penthouse độc quyền “Tại Việt Nam từ thời kỹ Pháp thuộc đã xuất hiện rất nhiều dai nước trong các khu dân cư tập trung, các din điền cao su từ Bắc vào Nam và đến nay vẫn còn tồn tai ở thành di tích lich sử “Tháp nước Hàng Đậu ~ Hà N Đài nước Dã Viên — Tp Hui nh 1. 2: Một số Đài nước được xây dựng ở Việt Nam từ thời ky Pháp thuộc Sau kải thống nhất dit nước, chúng ta đã xây dựng một số Dai nước trong sắc khu tập thể, chung cứ với mục đích cắp nước inh hoạt cho các khu nhà cao ting.
Dién hình như tháp nước Trung Tự, Kim thuật nên từ khi xây dựng đến nay hơn 35 năm không được sử dụng và đã bị phá bỏ. Hiện nay nhiều thấp nước vin tiếp tục được xây dựng chủ yêu cung cắp nước cho các khu công nghiệp, cứu hỏa, các khu tập trung dân cư. ee Tháp nước Trung Tự ~ Ha Nội "Đài nước khu CN Đình Vũ - HP Hình 1.3: Một số Bai nước được xây dựng ở Việt Nam những năm gin đây 1.3 Hình thức edu tạo Đài nước “Có nhiều cách để phân loại đả nước, tuy nhiên theo đặc điểm cấu tạo có thể phân thành 2 loại đi nước như sau: Dai nước thép và Đài nước bể tông cốtthp. Bai nước thép Ngoài phần móng ra còn lại sử dụng thép trong kết cầu thin di, bu đãi sử dung bằng thép, composite hoặc Inok.
Loại này thường là những đãi nước có dung tích nhỏ, thời gian sử dựng ngắn. Hầu hết các dai nước đã được xây dựng ở Việt Nam đều có dạng kết cầu truyền thing, bao gmcác bộ phận chủ yêu như: mỗng đãi, thin di, bi đi = Móng dii: Xây dựng bằng bể tông cốtthp, bê tông hoặc gạch, đá xây nhằm đảm bảo truyền lực từ đải xuống nền công trình giữ công trình an toàn, ôn định. ~ Thân dai: Gồm trụ đỡ bing thép hoặc các thanh thép liên liên kết với nhau bing bu lông tạo thành khung đỡ bầu dai, trên đó có gắn thang lên xuống dai và đường dng cấp thoát nước. ~ Bầu dai: Bằng thép, Inok hoặc composite chế tạo sẵn liên kết với thân dai, trên bầu dai có gắn thiết bị chống sét, hệ thống ống, van cấp nước lên xuống, (2).
Đài nước bé tang cắt tháp ự trình ấu tạo hoàn toàn bằng bể tông cốt thép hoặc thin đài bằng bê tông cốt thế tu dii bing thép hoặc Inok chế tạo sin lip ghép với thân đầi Được sit dụng phổ biến vi loại này thường là những đãi nước có dung ch chứa lớ thời gian sử dụng lâu dai và đáp ứng được yêu cau mỹ quan của khu vực. Các đài nước đã được xây dựng ở Việt Nam chủ yếu đều có dạng kết cầu bê tông cốt thép liễn khối. ~ Méng đài: Nhằm đảm bảo tryỄn lực từ đài xuống nền công trình giữ công trình an toàn, ôn din, Tùy vào kết cấu thân đài, khả năng chịu ải của nền để bổ trí móng dai phù hợp. Trường hợp thân dai là một trụ đỡ thì móng dai sử dụng mong bè, thân đài gồm nhiều trụ bê tông cốt thép liên kết với nhau thì sử dung móng đơn liên kết với nhau bằng các dầm be tông cốt thép hoặc sử dụng móng bé (nếu n thiên nhiên dim bảo khả năng chịu ti, sử dụng móng nông).
Trường hợp nền đất yếu không đảm bảo khả năng chịu tả của công trinh thường phải sử dụng mông s ~ Thân dai: Gm 2 loại chính như sau: Loại 1 gồm nhiều trụ đỡ bằng bê tông cốt thếp liên liên kết với nhau bằng cúc dm bê tông cốt thép tạo thảnh khung đỡ dai (hình1. 4a), loại này trước kia thường được sử dụng phổ bién, tuy nhiên về an không dp ứng được đối hoi cuộc sống hign ti nên đn nay it ấp dụng thép (hình 1. 4b), loại này dang sử dụng khá trong thực té hiện nay do đáp ứng được yêu cầu mỹ quan, to điểm nhắn kiến trúc trong khu vực. - Bầu dai: chủ yếu bằng bê tông cốt thép đổ tại chỗ liên kết với thân đài, hệ thống ông, van cắp nước lên xuống.
= (a) Dai nước đặt trên hệ khung (b) Dai nước đặt trên trụ đỡ Hình 1. 4: Dai nước bê tông cốt thép. Nối chung vé hình thức Đài nước là kết cấu mảnh có độ cao lớn, trong khí đó khối lượng nước tập trung ở rên đính do đô tạo mô men lớn đối với móng đồi khỉ chịu tác dụng của tải trọng ngang. Vì vậy việc nghiên cứu kết cấu móng dai phù hợp.
trên các loại nền khác nhau khi chịu tác dụng của các loại tải trọng trong đó có tải trọng gió, động dat là việc làm cần thiết để đảm bảo Dai nước làm việc én định lâu dại 1.4 Khái niệm về nỀn móng công trình 1.41 Nên và mông Nền móng là phần công trình làm việc chung với lớp đắt bên dưới trực tiếp sánh đỡ tải trọng bên trên. Công việc tính toán nền móng là nhằm. chọn được một loại nén móng công trình đảm bảo các điều kiện sau: 1- Công tình phải tuyệt đối an toàn 2. Khả thi nhất cho công trình 3- Giá thành rẻ nhất Xông là bộ phận dưới công tình có tắc dung truyền và phân bổ tải trọng từ sông tình lên mặt nén.
Móng thường có kích thước lớn hơn giảm áp suất mặt nên, Mông được chia làm hai loại mồng nông và mồng sâu. ‘Méng nông (hình 1. Sa) là phần mở rộng của chân cột hoặc đầy công trình nhằm có được một diện tích tiếp xúc thích hợp để đất nền có thé gánh chịu được áp lực đáy móng, loại móng này không xét lực ma sit xung quanh thành móng với đất hi tinh toán kha năng gánh đỡ của đất Móng nông thường được chia thành móng đơn chịu tải đúng tâm, móng đơn chịu ải lệch tâm lớn, móng phối hợp, móng băng, móng bẻ. nợ cm SS EEE=ELL === as Nee Hình1.
5: Một số loại móng thường gặp ‘Mong sâu khi độ sâu chôn móng lớn hơn chiều sâu tới han De, từ độ sâu này sức chịu tai của đất nền không tống tuyển tính theo chiền sâu nữa mà đạt giá trị không đổi, và thành phần ma sát giữa dit với thành móng được xét đến trong sức. chịu tải của đắt nên, gồm các loại móng trụ, móng cọc, móng barretc Móng trụ gồm các cột lớn chôn sâu gảnh đờ các công trình cả cảng, giản khoan ngoài biển,. Móng cọc là một loại móng sâu, thay vì được cấu tạo thành một trụ to, người ta cấu tạo thành nhiều thanh có kích thước b hon trụ. Nén là phạm vi đất phía đưới móng chịu thay đổi rạng thái ứng sult biển dạng khi xây dựng công trình.
Nén tự nhiên là nền gồm các lớp đắt có ết ấu tự hiền, nằm ngay sit bên dưới móng, chịu đựng trực tip ti trọng công trình do mông truyén sang Nền nhân tạo là nền khi các lớp đất ngay sát bền dưới móng không đủ kha năng chịu lực với kết cấu tự nhiễn (thưởng gặp là sé, sét, á cát trạng thải déo nhão, nhão, bùn, cát xếp (rời), 02 kGlem? < R* <0,8 kGlom’)cin phải áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao khả năng chịu lực của nền.2 Mô hình nén Xét một mồng dim như hình vẽ sau: 1.