CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỊNH MỨC KINH TẾ - KỸ THUẬT TRONG QUẢN LÝ KHAI THÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI 1. Định mức kinh tế - kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thủy lợi 1. Định mức kinh tế - kỹ thuật 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý theo khoa học Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa, khi con người biết lao động theo từng nhóm đã đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động.
Các Mác đã khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”, và ông hình dung quản lý giống như công việc của người nhạc trưởng trong một dàn hợp xướng. Từ đầu thế kỷ XX, có rất nhiều lý thuyết quản lý với nhiều trường phái khác nhau. Mỗi trường phái về lý luận quản lý đều có giá trị nhất định, cung cấp cho nhà quản lý những phương pháp quản lý hữu hiệu. Điển hình là thuyết quản lý của ông Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915), xuất thân là một công nhân cơ khí ở Mỹ, kinh qua các chức vụ đốc công, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư.
Với kinh nghiệm dày dặn của mình, ông đã phân tích quá trình vận động (thao tác) của công nhân, nghiên cứu quy trình lao động hợp lý, với các động tác không trùng lặp, tốn ít thời gian và sức lực) để đạt được năng suất cao. Đó chính là sự hợp lý hoá lao động, theo nghĩa rộng là tổ chức lao động một cách khoa học. Với các công trình nghiên cứu “Quản lý ở nhà máy” (năm 1903) và “Những nguyên lý quản lý theo khoa học” (năm 1911), ông đã hình thành thuyết quản lý theo khoa học, mở ra “kỷ nguyên vàng” trong quản lý ở Mỹ. Nội dung thuyết quản lý theo khoa học của ông dựa trên các nguyên tắc sau: • Xác định một cách khoa học khối lượng công việc hàng ngày của công nhân với các thao tác và thời gian cần thiết để bố trí quy trình công nghệ phù hợp (chia nhỏ các phần việc) và xây dựng định mức cho từng phần việc.
Định mức được xây dựng qua thực nghiệm (bấm giờ từng động tác). 1 • Lựa chọn công nhân thành thạo từng việc, thay cho công nhân “vạn năng” (biết nhiều việc song không thành thục). Các thao tác được tiêu chuẩn hoá cùng các thiết bị, công cụ, vật liệu cũng được tiêu chuẩn hoá và môi trường làm việc thuận lợi. Mỗi công nhân được gắn chặt với một vị trí làm việc theo nguyên tắc chuyên môn hoá cao độ.
• Thực hiện chế độ trả lương (tiền công) theo số lượng sản phẩm (hợp lệ về chất lượng) và chế độ thưởng vượt định mức nhằm khuyến khích nỗ lực của công nhân. • Phân chia công việc quản lý, phân biệt từng cấp quản lý. Thực hiện sơ đồ tổ chức theo chức năng và theo trực tuyến; tổ chức sản xuất theo dây chuyền liên tục. Thực hiện theo các nội dung nói trên, năng suất lao động tăng vượt bậc, giá thành thấp, kết quả cuối cùng là lợi nhuận cao để cả chủ lao động và người lao động đều có thu nhập cao.
Qua các nguyên tắc trên có thể rút ra các tư tưởng chính của thuyết Taylor là: - Tối ưu hoá quá trình sản xuất thông qua hợp lý hoá lao động, xây dựng định mức lao động - Tiêu chuẩn hoá phương pháp thao tác và điều kiện tác nghiệp - Phân công chuyên môn hoá đối với lao động của công nhân và đối với các chức năng quản lý - Tư tưởng “con người kinh tế” qua trả lương theo số lượng sản phẩm để kích thích tăng năng suất lao động và hiệu quả sản xuất. Thuyết quản lý theo khoa học chủ yếu đề cập đến công việc quản lý ở cấp cơ sở (doanh nghiệp) với tầm vi mô, tuy vậy đã đặt nền móng cơ bản cho thuyết quản lý nói chung, đặc biệt là phương pháp làm việc tối ưu, tạo động lực trực tiếp cho người lao động và việc phân cấp quản lý. Vai trò của công tác định mức trong quản lý 2 Như đã đề cập trong thuyết quản lý ở trên thì phương pháp quản lý có vai trò hết sức quan trọng đến sự thành công trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên trong lĩnh vực quản lý thì định mức thể hiện vai trò quan trọng nhằm mục đích cho công tác quản lý được dễ hơn, đem lại những kết quả cao hơn và đảm bảo hiệu quả về lợi ích chi phí trong các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Một số khái niệm về định mức Định mức là mức được quy định, được xác định bằng cách tính trung bình tiên tiến của hoạt động sản xuất trong một phạm vi xác định (cho từng loại sản phẩm, trong từng doanh nghiệp, tại từng địa phương). Mức hao phí các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất được hiểu là các nguồn lực như nhân lực, vật lực, tài lực. Mức hao phí các yếu tố sản xuất là số lượng hao phí từng yếu tố sản xuất để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Định mức kinh tế kỹ thuật trong công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi: là các mức hao phí cần thiết về lao động, vật tư, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu để hoàn thành nhiệm vụ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh kinh tế theo kế hoạch được giao.
Vai trò và sự cần thiết của công tác xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật trong quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Định mức là một trong những nội dung quan trọng mà hầu hết các quốc gia đều áp dụng. Ở Việt Nam công tác xây dựng và áp dụng nhiều loại định mức khác nhau được Chính phủ công bố thực hiện nhằm hướng dẫn hoặc kiểm soát nhiều hoạt động kinh tế. Trên thực tiễn quản lý sản xuất trong bất cứ ngành kinh tế nào cũng cần có những loại định mức chuyên ngành khác nhau. Ví dụ trong ngành Xây dựng, rất nhiều định mức được xem là những cơ sở quan trọng để các đơn vị vận dụng và sử dụng trong các hoạt động quản lý sản xuất.
Nhiều bộ định mức được công bố áp dụng như: Định mức dự toán xây dựng công trình (Phần xây dựng); Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng công trình; Định mức khảo sát xây dựng; Định mức vật tư trong xây dựng,… 3 Trong ngành Giao thông, nhiều loại định mức KTKT được công bố áp dụng như: Định mức kinh tế - kỹ thuật quản lý, bảo trì đường thủy nội địa; Định mức kinh tế - kỹ thuật sửa chữa thường xuyên đường sông,… Trong ngành Thủy lợi, đối với lĩnh vực xây dựng cơ bản thường áp dụng một số định mức công bố bởi Bộ Xây dựng. Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý khai thác do điều kiện đặc thù trong quản lý ngành nên nhiều định mức KTKT cũng đã và đang được áp dụng tại nhiều đơn vị trong ngành, phục vụ công tác quản lý khai thác công trình thủy lợi. Định mức KTKT trong quản lý khai thác CTTL có vai trò sau: + Đối với các tổ chức quản lý khai thác CTTL: - Làm căn cứ để lập kế hoạch sản xuất, kế hoạch lao động, kế hoạch tài chính hàng năm của đơn vị. - Làm căn cứ để sắp xếp và sử dụng lao động hợp lý nhằm nâng cao năng suất lao động, tinh gọn bộ máy và là cơ sở để thực hiện cơ chế khoán cho công tác quản lý khai thác và bảo vệ CTTL trong đơn vị (theo từng tổ, cụm, trạm thuỷ nông,…) nhằm gắn quyền lợi với trách nhiệm và kết quả của người lao động.
+ Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: - Là căn cứ để thẩm tra, thẩm định kế hoạch sản xuất, kế hoạch tài chính của đơn vị và là cơ sở để xây dựng đơn giá đặt hàng, giao kế hoạch, xác định giá gói thầu quản lý, khai thác và bảo vệ CTTL theo tinh thần Nghị định 31/2005/CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ và Quyết định 256/2006/QĐ-TTg ngày 9/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư 11/2009/TT-BTC ngày 21/1/2009 của Bộ Tài chính. - Là căn cứ để nghiệm thu, thanh quyết toán chi phí quản lý, khai thác và bảo vệ CTTL cho các đơn vị khi hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với các loại định mức khác nhau phải xây dựng dựa trên những đặc điểm kỹ thuật, điều kiện thực tế quản lý sản xuất của các ngành. Tuy nhiên việc xây dựng định mức phải dựa trên những nguyên tắc cơ bản.
Căn cứ xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật 4 Việc xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật (KTKT) trong công tác quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi căn cứ trên hệ thống văn bản pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn,.