Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý vật tư. Chương 2: Phân tích thực trạng về công tác quản lý vật tư tại Công ty trách nhiệm một thành viên đóng tàu Hồng Hà. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vật tư tại Công ty trách nhiệm một thành viên đóng tàu Hồng Hà. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬT TƯ 1.
Khái niệm vật tư. Khái niệm vật tư kỹ thuật Vật tư kỹ thuật là tư liệu sản xuất. Mọi vật tư kỹ thuật đều là tư liệu sản xuất, nhưng không nhất thiết mọi tư liệu sản xuất cũng đều là vật tư kỹ thuật. Tư liệu sản xuất gồm có đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Những sản phẩm của tự nhiên là những đối tượng lao động do tự nhiên ban cho, song trước hết phải dùng lao động để chiếm lấy. Chỉ sau khi có sự cải biến những sản phẩm của tự nhiên thành những sản phẩm của lao động, sản phẩm mới có những thuộc tính, những tính năng kỹ thuật nhất định. Do đó không phải mọi đối tượng lao động cũng đều là sản phẩm lao động, chỉ nguyên liệu mới là sản phẩm của lao động. Phân loại vật tư kỹ thuật Vật tư kỹ thuật gồm nhiều chủng loại, từ những thứ có tính năng kỹ thuật cao, những loại thông thường, từ những thứ có khối lượng và trọng lượng lớn đến nhỏ nhẹ, từ những thứ rất đắt tiền đến những thứ rẻ tiền.
Tất cả đều là sản phẩm lao động, dùng để sản xuất. Toàn bộ vật tư được phân theo tiêu thức cơ bản sau. a/ Theo công dụng trong quá trình sản xuất: được chia thành hai nhóm * Vật tư dùng làm đối tượng lao động - Nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu, bán thành phẩm, chi tiết bộ phận máy. - Vật tư chuyên dùng.
* Vật tư dùng làm tư liệu lao động - Thiết bị động lực. - Thiết bị vận chuyển và chứa đựng đối tượng lao động. - Hệ thống thiết bị, máy móc điều khiển. - Công cụ, khí cụ và dụng cụ dùng vào sản xuất.
- Các loại phụ tùng máy. 4 - Các loại đồ trong dùng nhà xưởng. b/ Theo tính chất sử dụng Vật tư thông dụng gồm những vật tư dùng phổ biến cho nhiều ngành còn vật tư chuyên dùng bao gồm những loại vật tư dùng cho một ngành nào đó, thậm chí một doanh nghiệp như: - Vật tư chuyên dùng ngành may mặc. - Vật tư dùng trong ngành đóng tàu.
- Vật tư chuyên dùng cho ngành chế biến thực phẩm. - Vật tư chuyên dùng cho an ninh quốc phòng. c/ Theo tầm quan trọng của vật tư Các loại vật tư có tầm quan trọng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh. Một số vật tư nếu bị thiếu sẽ làm tê liệt hoạt động của doanh nghiệp, một số khác quá đắt, một số khó mà có được.
Do vậy, trong quá trình tổ chức mua sắm và quản lý vật tư, các doanh nghiệp cần chú ý vào những sản phẩm “quan trọng”. Chúng cần phải được phân loại để có phương pháp quản lý có hiệu quả. Quản lý vật tư Việc đáp ứng đầy đủ các loại vật tư thiết bị kịp thời và đồng bộ là điều kiện cần thiết cho quá trình sản xuất, có đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại kịp thời thì doanh nghiệp mới tồn tại và đạt được mục đích trong sản xuất kinh doanh. * Công tác quản lý vật tư bao gồm: - Xác định nhu cầu và lập kế hoạch yêu cầu vật tư - Xác định phương thức đảm bảo vật tư - Lập và tổ chức thực hiện kế hoạch mua vật tư.
Tổ chức cấp phát vật tư. - Quản lý vật tư nội bộ. - Phân tích quá trình mua sắm và quản lý vật tư. Quá trình lập kế hoạch cung ứng Hoạch định nhu cầu là sự lựa chọn để đáp ứng nhu cầu bởi dự trữ.
Mỗi 5 phương thức đại diện cho điểm kết thúc của một loạt lựa chọn cụ thể được xem xét để đáp ứng nhu cầu. Để vật tư có sẵn kịp thời cho sản xuất, chúng ta có hai cách: - Cách thứ nhất: định thời gian nguyên vật liệu có sẵn vừa lúc chúng cần cho sản xuất. - Cách thứ hai: đáp ứng nhu cầu bằng dự trữ. Mức dự trữ được duy trì bằng các quy tắc bổ sung dự trữ.
Những quy tắc này định rõ khi nào là số lượng nguyên vật liệu bao nhiêu sẽ di chuyển trong kênh cung ứng. Kế hoạch mua sắm vật tư đóng một vai trò rất quan trọng của kế hoạch sản xuất – kỹ thuật – tài chính. Chúng có mối liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau. Kế hoạch mua sắm vật tư đảm bảo yếu tố về vật chất, để thực hiện kế hoạch khác.
Còn các kế hoạch khác là căn cứ để xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư. Đặc điểm của kế hoạch mua sắm Kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch mua sắm vật tư sẽ dự kiến trực tiếp thời gian của quá trình sản xuất, sự tiêu dùng trực tiếp của các tư liệu sản xuất sẽ phát sinh trong doanh nghiệp. Kế hoạch mua sắm vật tư trong doanh nghiệp rất phức tạp. Kế hoạch mua sắm vật tư trong doanh nghiệp có tính chất cụ thể và nghiệp vụ cao độ.
Nội dung mua sắm vật tư Kế hoạch mua sắm vật tư của doanh nghiệp thực chất là sự tổng hợp các tài liệu tính toán kế hoạch tổng hợp nhu cầu vật tư. Nhiệm vụ chủ yếu là đảm bảo đủ vật tư, vật tư tốt đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất. Kế hoạch mua sắm vật tư có 2 nội dung cơ bản: Phản ánh toàn bộ nhu cầu vật tư kỳ kế hoạch: (Vật tư cho sản xuất, cho xây dựng cơ bản cho sửa chữa, cho dự trữ) Phản ánh các nguồn vật tư để thoả mãn nhu cầu trên gồm: Tồn kho nguồn tiềm năng nội bộ, nguồn mua ngoài. Trình tự lập kế hoạch mua sắm Gồm các giai đoạn sau: * Giai đoạn chuẩn bị: Đây là giai đoạn quan trọng quyết định đến chất lượng và nội dung của kế hoạch vật tư.
Để làm tốt giai đoạn này thì cán bộ thương mại doanh nghiệp phải thực hiện các công việc sau: + Nghiên cứu và thu thập các thông tin về thị trường, các yếu tố sản xuất. + Chuẩn bị các tài liệu về phương án sản xuất – kinh doanh – tiêu thụ sản phẩm. + Mức tiêu dùng nguyên vật liệu, yêu cầu của các công trường, phân xưởng, của doanh nghiệp. * Giai đoạn tính toán các nhu cầu: Để có được kế hoạch mua vật tư chính xác và khoa học đòi hỏi phải xác định đầy đủ các loại vật tư cho sản xuất.
Đây là căn cứ quan trọng để xác định lượng vật tư cần mua về cho doanh nghiệp. + Xác định số lượng vật tư tồn đầu kỳ và tồn cuối kỳ của doanh nghiệp. + Xác định số lượng vật tư hàng hoá cần phải mua về cho doanh nghiệp. Mục tiêu của việc lập kế hoạch là làm sao số lượng vật tư mua về ở mức tối thiểu mà vẫn đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Có nghĩa là tổng nhu cầu bằng tổng nguồn dự trữ nhưng rất ít. Quản lý nguồn cung cấp 1. Khái niệm và đặc điểm xác định nhu cầu vật tư * Khái niệm: Nhu cầu vật tư là những nhu cầu cần thiết về nguyên, nhiên vật liệu, thiết bị, máy móc để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định. * Những đặc điểm cơ bản để xác định nhu cầu vật tư: - Liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất.
- Nhu cầu được hình thành trong lĩnh vực sản xuất vật chất. 7 - Tính xã hội của nhu cầu vật tư kỹ thuật. - Tính thay thế lẫn nhau của nhu cầu vật tư. - Tính bổ sung cho nhau về nhu cầu vật tư.
- Tính khách quan của nhu cầu vật tư. - Tính đa dạng và nhiều vẻ của nhu cầu vật tư. Do những đặc điểm cơ bản trên mà việc nghiên cứu và xác định các loại nhu cầu vật tư ở doanh nghiệp là rất phức tạp, đòi hỏi cán bộ kinh doanh phải có sự am hiểu sâu sắc về lĩnh vực hàng hoá công nghiệp, công nghệ sản xuất, kiến thức thương mại… 1. Nội dung quản lý nguồn cung cấp Phối hợp cùng dòng chảy hàng hóa và dịch vụ những phương tiện vật chất là vấn đề chính trong quản trị chuỗi cung ứng.
Các quyết định có tính tích hợp về số lượng sản phẩm vận chuyển, phương thức vận chuyển, địa điểm vận chuyển, kế hoạch cung ứng. Những quyết định hoạch định này cần có sự phối hợp hoạt động cung ứng với các hoạt động khác trong doanh nghiệp 1. Hoạt động mua sắm của doanh nghiệp Hoạt động mua sắm của doanh nghiệp có nhiệm vụ thu mua hàng hóa và dịch vụ các hoạt động mua sắm được thể hiện: - Giúp doanh nghiệp quyết định tự sản xuất hay mua nguyên vật liệu. - Xác định nguồn cung cấp.
- Lựa chọn nhà cung cấp và đàm phán về hợp đồng. - Kiểm soát, quản lý hiệu quả của nhà cung ứng. Hoạt động mua sắm của doanh nghiệp có tầm quan trọng rất lớn đến doanh nghiệp vì là trung tâm chi phí chính và ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm. Vai trò của mua sắm Mua tốt cũng cần như bán tốt.
Mua sắm tốt đem lại cho công ty những lợi ích trên ba phương diện: 8 - Chi phí, - Chất lượng, - Công nghệ. Mua tốt, giảm chi phí, tăng lợi nhuận: Theo số liệu thống kê trung bình trong các ngành công nghiệp Mỹ cứ trong 100USD doanh thu thì có 8USD lợi nhuận 55 USD là chi phí mua. Nếu tiết kiệm 5% chi phí mua sẽ tiết kiệm được 2,75 USD, tương đương tăng 34% doanh số bán hàng. Vậy một công ty có ROS là 8%, chi phí nguyên vật liệu là 55% thì giảm 5% chi phí nguyên vật liệu, có tác dụng tương tự như tăng 34% doanh thu.
Quản lý nguyên vật liệu Là lập kế hoạch và kiểm soát dòng chảy của nguyên vật liệu (Hệ thống hậu cần trong quá trình sản xuất kinh doanh). Quản lý nguyên vật liệu liên quan đến mua sắm, kho bãi, lập kế hoạch sản xuất, vận tải hàng hóa, tiếp nhận, kiểm soát chất lượng vật liệu, quản lý và kiểm soát hàng tồn kho, cứu hộ và xử lý phế liệu. Quy trình mua sắm: - Phân tích các nhu cầu mua sắm chúng ta cần: Nhận diện các nhu cầu sắm và yêu cầu của người sử dụng, từ đó chúng ta quyết định tự làm hay mua ngoài.