CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài chính Doanh nghiệp 1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là một mắt xích quan trọng của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hóa tiền tệ. Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thì bất cứ một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng tiền tệ nhất định, đó là tiền đề cần thiết và quan trọng. “Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các luồng chuyển dịch giá trị, phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn tài chính trong quá trình phân phối nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp” [12].
Hoạt động tài chính doanh nghiệp là một trong những hoạt động cơ bản nhất đối với mỗi doanh nghiệp. Hoạt động tài chính doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu như huy động, khai thác vốn, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn cũng như phân bổ và sử dụng các nguồn vốn một cách hợp lý và hiệu quả.2 Chức năng của tài chính doanh nghiệp 1. Chức năng phân phối Đối với tài chính doanh nghiệp chức năng phân phối được thể hiện ở hai nội dung: huy động hay tạo nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó vào các hoạt động của doanh nghiệp. Nói một cách ngắn gọn, chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp liên quan đến việc trả lời ba câu hỏi: tạo vốn từ đâu? Đầu tư vốn vào đâu? Và phân phối thu nhập như thế nào? [13].2 Chức năng giám đốc bằng tiền Chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp thể hiện bằng khả năng giám sát tính hiệu quả của quá trình phân phối.
Chức năng này phải được thể hiện một cách toàn diện, thường xuyên và liên tục. Có như vậy 5 mới đảm bảo được tình hình tài chính của doanh nghiệp luôn được lành mạnh, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bình thường, chủ động và có hiêu quả [14].3 Mối quan hệ giữa hai chức năng của tài chính doanh nghiệp Chức năng phân phối và chức năng giám đốc bằng tiền của tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại hữu cơ và bổ sung cho nhau. Phân phối là cơ sở để giám đốc vì phân phối tạo ra nhu cầu và khả năng kiểm tra, giám sát; còn giám đốc nhằm đảm bảo cho việc thực hiện phân phối hợp lý, đúng mục đích. Chức năng giám đốc phải được thực hiện thường xuyên và toàn diện chính trong quá trình phân phối [14].3 Các mối quan hệ trong tài chính doanh nghiệp 1.Các mối quan hệ giữa Doanh nghiệp với Nhà nước Đây là mối quan hệ phát sinh đầu tiên đối với mỗi Doanh nghiệp.
Doanh nghiệp vừa nhận được các lợi ích từ Nhà nước vừa phải chịu các nghĩa vụ đối với Nhà nước. Trong điều kiện kinh tế hội nhập hiện nay thì Nhà nước còn có một vai trò vô cùng quan trọng là phát hiện ra và có những điều chỉnh kịp thời các văn bản pháp luật cho phù hợp với tình hình và nhu cầu mới của thị trường. Các mối quan hệ của doanh nghiệp với thị trường - Mối quan hệ với thị trường tài chính: Thị trường tài chính đóng một vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Và thị trường tài chính là một kênh cung cấp tài chính cho nhu cầu của các doanh nghiệp.
- Mối quan hệ với thị trường hàng hóa: Thị trường hàng hóa thì một thị trường vô cùng quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Đây chính là nơi diễn ra hoạt động trao đổi các sản phẩm giữa các doanh nghiệp và kết quả của quá trình này có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường. Quá trình này giúp cho thị trường hàng hóa vô cùng đa dạng và luôn luôn phát triển. 6 - Mối quan hệ với thị trường lao động: Các sản phẩm được tạo ra trên thị trường chính là kết tinh của sức lao động.
Chính vì vậy mà thị trường lao động có mối quan hệ rất mật thiết với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp là nơi thu hút và giải quyết công ăn việc làm cho một số không nhỏ người lao động. Ngược lại, thị trường lao động lại là nơi cung cấp cho doanh nghiệp những doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp, là cầu nối giữa người lao động và doanh nghiệp. - Mối quan hệ với các thị trường khác: Bên cạnh các thị trường trên thì doanh nghiệp còn có mối quan hệ với rất nhiều thị trường khác như thị trường khoa học công nghệ, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường bất động sản, thị trường thông tin… Đối với các thị trường này, doanh nghiệp vừa đóng vai trò là nhà cung ứng các dịch vụ đầu vào vừa đóng vai trò là khách hàng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra.
Các mối quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Trong nội bộ doanh nghiệp cũng phát sinh rất nhiều mối quan hệ như mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, quan hệ giữa các phòng ban, quan hệ giữa người lao động với người lao động trong quá trình làm việc, quan hệ giữa doanh nghiệp với người lao động, quan hệ giữa doanh nghiệp với người quản lý doanh nghiệp, quan hệ giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn… Các mối quan hệ này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp và doanh nghiệp có thể kiểm soát được. Nếu doanh nghiệp giải quyết tốt các mối quan hệ này thì sẽ tạo được động lực rất lớn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các nhà quản lý cần phải nắm vững tầm quan trọng của mối quan hệ này để có thể có những biện pháp hữu hiệu và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp mình để có thể duy trì và củng cố được các mối quan hệ này và tạo ra một môi trường làm việc tích cực cho mọi thành viên trong doanh nghiệp, tạo cơ hội và khuyến khích sự đóng góp của mọi thành viên trong quá trình phát triển doanh nghiệp 7 1. Quản lý tài chính trong Doanh 1.
Khái niệm quản lý tài chính trong doanh nghiệp Có thể thấy rằng quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình của doanh nghiệp cũng như môi trường hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, phù hợp với tình hình của doanh nghiệp, đến đảm bảo các quyết định tài chính được thực hiện và phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính doanh nghiệp cũng như mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp. Hiểu theo một cách đơn giản thì quản lý tài chính là việc các nhà quản lý làm cách nào để huy động vốn nhanh và ổn định nhất, phẩn bổ và sử dụng nguồn vốn ấy có hiệu quả nhất, đưa lại lợi nhuận cao và ổn định cho doanh nghiệp và đảm bảo cho hoạt động tài chính và hoạt động phát triển ổn định [20]. Vai trò của quản lý tài chính trong doanh nghiệp Quản lý tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản lý doanh nghiệp và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quản lý doanh nghiệp. Để tồn tại và phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở công tác hoạch định cả về mặt chiến lược và chiến thuật.
Về mặt chiến lược phải xác định rõ mục tiêu kinh doanh, các hoạt động dài hạn và các chính sách tài chính của doanh nghiệp. Về mặt chiến thuật phải xác định những công việc trong thời gian ngắn, cụ thể đẻ phục vụ cho kế hoạch chiến lược của doanh nghiệp. Quản lý tài chính doanh nghiệp là một bộ phận của quản lý doanh nghiệp, thực hiện các nội dung cơ bản của quản lý tài chính đối với các quan hệ phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu doanh nghiệp đã đề ra. Quản lý tài chính doanh nghiệp được hình thành để nghiên cứu, phân tích và xử lý mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp, hình thành những công cụ tài chính giúp các nhà quản lý đưa ra được những quyết định tài chính đúng đắn và mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp.
Các nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp Nguyên tắc 1: Nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận Quản lý tài chính phải dựa trên mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Giữa rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao sẽ đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao và ngược lại. Nếu nhà quản lý tài chính muốn thu được lợi nhuận cao vào cuối kỳ thì sẽ phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn. Việc áp dụng nguyên tắc này ở mỗi doanh nghiệp có sự khác nhau tùy thuộc vào mức độ chấp nhận và năng lực dự đoán rủi ro của họ.
Nguyên tắc 2: Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền Môi trường kinh tế là một môi trường luôn luôn biến đổi, do vậy một lượng tiền cụ thể tại mỗi thời điểm khác nhau sẽ có giá trị khác nhau khi đưa về thời điểm hiện tại. Điều đó xảy ra do tác động của yếu tố như lãi suất, lạm phát. Do vậy, trong hoạt động quản lý tài chính , để tính toán hiệu quả của một công cuộc đầu tư, các nhà quản lý cần đưa kết quả về hiện tại để so sánh và phân tích. Nguyên tắc 3: Nguyên tắc chi trả Thông thường các kết quả báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chỉ phản ánh thực trạng lỗ lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên trong thực tế, điều mà doanh nghiệp quan tâm hơn chính là dòng tiền. Dòng tiền vào và dòng tiền ra của doanh nghiệp phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí. Do đó, nguyên tắc này có nghĩa là việc quản lý tài chính của mỗi doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến lợi nhuận mà còn cần phải quan tâm đến việc phân bổ lợi nhuận cho các hoạt động chi trả khác như: cổ tức. Nguyên tắc này đảm bảo cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp thông qua các phương án phân phối lợi nhuận hợp lý.
Nguyên tắc 4: Nguyên tắc thị trường có hiệu quả.