phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các hình và bảng, phụ lục và tài liệu tham khảo; luận văn được bố cục theo 3 chương như sau: Chƣơng 1. Cơ sở khoa học về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng Trong chương này tác giả trình bày cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng; Cấu trúc chuỗi cung ứng; Tiêu chuẩn đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng. Đồng thời tác giả nghiên cứu bài học kinh nghiệp thành công của sầu riêng Thái Lan và bài học từ thất bại của chuỗi cung ứng dừa ở tỉnh Bến Tre, từ đó rút ra bài học cho chuỗi cung ứng sầu riêng huyện Cai Lậy. Đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng sản phẩm sầu riêng tại huyện Cai Lậy – Tỉnh Tiền Giang.
Trong chương này tác giả đã thực hiện điều tra khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 160 hộ nông dân trồng sầu riêng, 30 nhà thu mua sầu riêng, 30 nhà bán sỉ sầu riêng, 15 doanh nghiệp kinh doanh sầu riêng, 30 nhà bán lẻ sầu riêng và 30 người tiêu dùng sầu riêng trên địa bàn huyện Cai Lậy và Thành Phố Hồ Chí Minh. Từ đó nhận diện những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả chuỗi cung ứng sầu riêng để làm cơ sở để xuất giải pháp ở chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng sầu riêng tại huyện Cai Lậy – Tỉnh Tiền Giang. Trong chương này tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể cho từng thành phần trong chuỗi cung ứng: nông dân, nhà thu mua, nhà bán sỉ, doanh nghiệp, người tiêu dùng và đồng thời tác giả đưa ra những kiến nghị cho cơ quan chức năng địa phương, các ban ngành nhằm nâng cao hiệu quả của chuỗi cung ứng sầu riêng huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang trong thời gian tới.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 1.TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG 1. Chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1. Chuỗi cung ứng Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiềuhướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “chuỗi cung ứng”. Trong nghiên cứu của luận văn, tác giả trích lược một số định nghĩa chuỗi cung ứng nhằm củng cố cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu của mình, bao gồm: Theo Ganeshan và cộng sự [20]cho rằng chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựachọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng.
Theo Lambert, Stock và Elleam [23, tr.13-15] cho rằng chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường. Theo Mentzer và cộng sự [10, tr.4] lập luận rằng chuỗi cung ứng là tập hợp của bathực thể hoặc nhiều hơn (có thể là pháp nhân hoặc thể nhân) liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên liệu đến khách hàng. Nhìn chung về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm: - Cung cấp: tập trung vào các hoạt động mua nguyên liệu như thế nào? Mua từ đâuvà khi nào nguyên liệu được cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất. - Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên liệu thành sản phẩm cuối cùng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả. Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể định nghĩa chuỗi cung ứng như sau: Chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng. Nói cách khác, chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản, đó là: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng; hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống [7]. Quản trị chuỗi cung ứng Dựa theo cách tiếp cận nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã đề cập, để các hoạt động trong chuỗi diễn ra nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết trong bất kỳ công đoạn nào trong chuỗi [2].
Theo Mentzer và cộng sự (2001) định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải thiện việc thực hiện mang tính dài hạn của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ chuỗi cung ứng nóichung [24, tr. * Tóm lại: Dựa vào việc nghiên cứu một số quan điểm của các chuyên gia về quản trị chuỗi cung ứng cho thấy đây là một phần nội dung không thể thiếu của chuỗi cung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Để chuỗi cung ứng của một doanh nghiệp hay một ngành hiệu quả, bền vững và thể hiện tính liên kết chặt chẽ thì chuỗi cung ứng ấy phải được tổ chức quản lý một cách khoa học, linh hoạt, trong đó điều kiện tối thiểu cần thiết là các thành phần trong chuỗi phải liên kết, tương tác, hợp tác chặt chẽ với nhau [5]. Phân loại chuỗi cung ứng 1.
Theo tiêu chí tính liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng - Chuỗi cung ứng hợp tác Được hiểu một cách đơn giản bao gồm hai hoặc nhiều hơn các doanh nghiệp độc lập làm việc với nhau nhằm lên kế hoạch và thực thi các hoạt động chuỗi cung ứng sẽ đạt được thành công hơn là hoạt động riêng biệt và các chuỗi cung ứng hợp tác thông thường khác nhau do chính cấu trúc của chúng [28, tr. - Chuỗi cung ứng tương tác Được chia theo 4 mức độ hệ thống, bao gồm [21]: + Mức độ hệ thống 1: Chuỗi nội bộ trong doanh nghiệp + Mức độ hệ thống 2: Quan hệ đối tác song phương + Mức độ hệ thống 3: Chuỗi mở rộng gồm nhà cung cấp, các nhà cung cấp của nhà cung cấp, khách hàng và các khách hàng của khách hàng. + Mức độ hệ thống 4: Mạng lưới các chuỗi nối liền với nhau. Theo đặc tính của sản phẩm Theo Taylor [29, tr.136-137] có thể chia chuỗi cung ứng thành hai loại: - Chuỗi có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovative Supply Chain):Các sản phẩm thay đổi liên tục trên thị trường (các loại chip, phần mềm tin học, quần áo thời trang, đồ gỗ,…) Đặc điểm của loại chuỗi này là thông tin được chia sẻ tốt, thời gian đáp ứng rất nhanh, tốc độ qua chuỗi lớn, vòng đời sản phẩm ngắn, mức độ tồn kho ít.
- Chuỗi có sản phẩm mang tính chức năng (Functional Supply Chain): Đặc tính sản phẩm ít thay đổi, nhu cầu trên thị trường ít biến động (lương thực, thực phẩm, các sản phẩm nông nghiệp…). Để tăng hiệu suất hoạt động của chuỗi, nên tìm cách giảm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 chi phí trong sản xuất, vận chuyển và giao dịch. Quản lý chuỗi chú trọng tới việc giảm tồn kho, và tăng chia sẻ thông tin giữa các thành viên với nhau. Theo cách thức đưa sản phẩm ra thị trường Có thể chia chuỗi cung ứng làm 2 dạng: - Chuỗi đẩy (Push Supply Chain):Sản phẩm được sản xuất dạng tồn kho, sảnxuất song song với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ.
Các nhà quản lý cố gắng đẩy sản phẩm ra khỏi kho của mình đến lớp tiếp theo trong kênh phân phối. Đến lượt các lớp này lại cố gắng đẩy nó lên phía trước gần khách hàng hơn. Quyền lực nằm trong tay nhà cung cấp, họ có nhiều vị thế trong đàm phán về giá cả, đặc biệt đối với các sản phẩm mới. Khách hàng không có nhiều cơ hội chọn lựa.
- Chuỗi kéo (Pull Supply Chain):Sản phẩm xuất phát từ nhu cầu của khách hàng trên thị trường, họ tìm kiếm các nhà sản xuất có thể đáp ứng nhu cầu của họ. Các nhà sản xuất lại tìm những nhà thầu phụ, nhà cung cấp khác có thể giúp họ hoàn thành thương vụ và quá trình cứ thế lặp lại, chuỗi cung ứng được hình thành. Khách hàng có cơ hội chọn lựa những nhà cung cấp mà họ cảm nhận giá trị sản phẩm là tốt nhất. CÁC THÀNH PHẦN VÀ MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC TRONG CHUỖI CUNG ỨNG 1.
Các thành phần cơ bản trong chuỗi cung ứng Theo Lambert [23] cho rằng một chuỗi cung ứng bao gồm hệ thống các thực thể và các kết nối giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Hay một chuỗi cung ứng về cơ bản bao gồm các thành phần đó là các pháp nhân (các doanh nghiệp cung ứng, doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ), các tổ chức, các mạng lưới và các thể nhân. Sự kết nối giữa các thành tố trên được xem là các kết nối hoặc các mối quan hệ. Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng.
Song song đó các dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hướng của chuỗi này. Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối, chính vì vậy đa số các chuỗi cung ứng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 thực sự là các mạng liên kết (network). Trong một chuỗi cung ứng có thể phân tích thành các thành phần cơ bản sau đây [25], gồm: 1. Nhà cung cấp Nhà cung cấp được xem như một thành viên bên ngoài - có năng lực sản xuất không giới hạn.
Tuy nhiên, bởi vì những nhân tố không chắc chắn trong tiến trình chuyển phát, nhà cung cấp có thể sẽ không cung cấp nguyên liệu thô cho nhà sản xuất đúng lúc. Trong luận văn nghiên cứu này, nhà cung cấp bao gồm các trung tâm vật tư, các đại lý bán sỉ, đại lý bán lẻ được nhà sản xuất lựa chọn tùy thuộc vào năng lực và uy tín cung ứng của họ.