Tổng quan nghiên cứu

Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu tổng diện tích tự nhiên 11.389,62 ha với 13 đơn vị hành chính cấp phường, giữ vị trí cửa ngõ giao thương chiến lược trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Giai đoạn 2011 - 2016, nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tăng mạnh từ 2.790 tỷ đồng lên 5.314 tỷ đồng, kéo theo tốc độ đô thị hóa nhanh chóng và nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất tăng vọt. Tuy nhiên, theo báo cáo của cơ quan quản lý chuyên ngành năm 2016, có tới khoảng 70% khối lượng giao dịch bất động sản tại các đô thị phát triển vẫn diễn ra trên thị trường không chính thức, gây thất thu nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự bất cập giữa các công cụ tài chính đất đai hiện hành với quy luật vận động của thị trường bất động sản. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá thực trạng thu ngân sách từ đất (bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ), chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế tài chính đất đai. Nghiên cứu giới hạn không gian tại Quận 9 và mốc thời gian thu thập dữ liệu từ năm 2011 đến năm 2016. Luận văn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa tỷ trọng thu ngân sách từ đất đai (giai đoạn khảo sát chiếm từ 8,27% đến 13,20% tổng thu ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh), góp phần giảm thiểu trên 50% các vụ việc tranh chấp, khiếu nại phát sinh từ công tác định giá đền bù giải phóng mặt bằng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết địa tô kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, xác định giá cả đất đai là địa tô tư bản hóa theo công thức P = R/I (trong đó R là địa tô, I là tỷ lệ chiết khấu), kết hợp với lý thuyết tân Mác-xít mở rộng W = C + V + M để giải thích giá trị gia tăng kết tinh từ hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng. Song song đó, đề tài vận dụng quan điểm kinh tế học thị trường hiện đại của Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2005) về hai cấu phần giá trị bất động sản: giá trị hữu hình (vị trí, diện tích, suất đầu tư kỹ thuật) và giá trị vô hình (vị thế thương mại, tâm lý xã hội và tiềm năng phát triển).

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: chính sách tài chính đất đai, cơ chế quản lý đất đai (vận hành qua 4 phân hệ: pháp lý, hành chính, kinh tế, tổ chức), khung giá đất do Chính phủ ban hành và bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định định kỳ. Theo quy định tại Nghị định 142/2005/NĐ-CP và Nghị định 121/2010/NĐ-CP, đơn giá thuê đất được tính từ 0,5% đến 2,0% giá đất do tỉnh ban hành, trong khi Nghị định 80/2008/NĐ-CP quy định mức thu lệ phí trước bạ 0,5% với mức trần tối đa 500 triệu đồng cho một tài sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp giữa số liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê Quận 9, Chi cục Thuế Quận 9, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu với cỡ mẫu khảo sát là 200 hộ gia đình sử dụng đất thực tế trên địa bàn 13 phường thuộc Quận 9 trong năm 2016. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho các nhóm đối tượng: đất nông nghiệp, đất ở đô thị và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian kết hợp xử lý trên phần mềm Microsoft Excel là nhằm lượng hóa chính xác biên độ chênh lệch giữa giá đất quy định với giá thị trường tự do, đồng thời đánh giá mức độ biến động của các dòng thu ngân sách qua từng năm. Toàn bộ quá trình tổng hợp dữ liệu, xử lý thống kê và tham vấn ý kiến chuyên gia quản lý đất đai được tiến hành từ tháng 1/2017 đến tháng 7/2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế tại Quận 9 diễn ra rất mạnh mẽ. Năm 2016, tổng doanh thu ngành thương mại - dịch vụ đạt 7.886,966 tỷ đồng, tăng 50,88% so với năm 2015; giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 2.600,629 tỷ đồng, tăng 33,85%; trong khi giá trị sản xuất nông nghiệp giảm chỉ còn 53,058 tỷ đồng (diện tích canh tác lúa giảm 14,32% xuống mức 183,8 ha).

Thứ hai, quy mô vốn đầu tư phát triển tăng từ 2.790 tỷ đồng (năm 2011) lên 5.314 tỷ đồng (năm 2016), đạt mức tăng trưởng 90,46%. Sự bùng nổ hạ tầng dẫn đến việc chuyển đổi hơn 1.042 ha đất sang mô hình vườn chuyên canh và khu dân cư đô thị, tạo sức ép lớn lên công tác xác định nghĩa vụ tài chính.

Thứ ba, sự tồn tại dai dẳng của cơ chế "hai giá" tạo ra rào cản lớn. Khảo sát thực tế tại các dự án trọng điểm như Khu tái định cư Kiến Á và Khu tái định cư Man Thiện III cho thấy đơn giá đất do Nhà nước quy định chỉ bằng khoảng 20% đến 35% giá chuyển nhượng thực tế ngoài thị trường. Tình trạng này khiến hơn 70% hồ sơ chuyển nhượng kê khai giá trị thấp hơn thực tế nhằm né tránh mức thuế thu nhập cá nhân 2% và lệ phí trước bạ 0,5%.

Thứ tư, cơ chế khấu trừ chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng vào tiền sử dụng đất và tiền thuê đất còn nhiều vướng mắc, tạo ra sự phân biệt đối xử bất hợp lý giữa doanh nghiệp trong nước (thuê đất nộp tiền hàng năm không được quyền bán tài sản gắn liền với đất) và doanh nghiệp nước ngoài (được lựa chọn nộp tiền thuê một lần cho cả thời hạn thuê theo Luật Đất đai).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên bắt nguồn từ việc khung giá đất của Chính phủ mang tính áp đặt cơ học, khiến bảng giá đất hàng năm của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không thể bám sát biên độ giá thị trường tự do. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây của Hồ Đông (2001) và Chu Thị Thủy Chung (2008), đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho thấy phương pháp xác định giá đất hiện tại chưa tách bạch được giá trị thặng dư do đầu tư công tạo ra.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Thụy Điển định kỳ 6 năm xác định giá đất tính thuế một lần bằng 75% giá thị trường của 2 năm trước liền kề kết hợp thuế tài sản lũy tiến từ 1,5% đến 3%; thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) từ năm 1990 đã thành lập doanh nghiệp phát triển quỹ đất để thu hồi toàn bộ phần giá trị địa tô tăng thêm phục vụ tái đầu tư hạ tầng. Trong thực tiễn phân tích, các biến động này có thể được trình bày bằng biểu đồ cột so sánh chuỗi biến động thu ngân sách từ đất giai đoạn 2011 - 2016 và bảng ma trận đối chiếu giữa giá đất bồi thường của Nhà nước với giá giao dịch thị trường tự do (cho thấy độ lệch tăng trên 200% trong 5 năm).

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế xác định giá đất tiệm cận thị trường. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cùng Sở Tài nguyên và Môi trường cần bãi bỏ việc áp dụng khung giá đất cứng nhắc, tiến hành xây dựng bản đồ giá đất số hóa và cập nhật định kỳ hệ số điều chỉnh giá đất hàng quý. Mục tiêu phấn đấu đưa bảng giá đất đạt 75% - 85% giá giao dịch thực tế vào giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, thiết lập cơ chế điều tiết phần giá trị đất đai tăng thêm do Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng. Chi cục Thuế Quận 9 phối hợp cùng Phòng Tài chính - Kế hoạch tổ chức đấu giá công khai quyền sử dụng đất sạch dọc các trục giao thông quy hoạch mới; áp dụng mức thuế suất bổ sung đối với các khu đất hưởng lợi từ công trình công cộng nhằm tăng thu ngân sách từ 20% đến 25% mỗi năm trong giai đoạn 2018 - 2022.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ tái định cư vào tiền sử dụng đất. Hội đồng Bồi thường giải phóng mặt bằng Quận 9 và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai cần công khai minh bạch bảng đơn giá bồi thường tại các khu tái định cư như Man Thiện III và Kiến Á, thực hiện liên tục từ quý 1/2018 nhằm rút ngắn 40% thời gian luân chuyển hồ sơ thẩm định tài chính.

Thứ tư, sửa đổi quy định pháp lý nhằm tạo sự bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường tham mưu Chính phủ sửa đổi Điều 111 Luật Đất đai theo hướng cho phép tổ chức kinh tế trong nước thuê đất trả tiền hàng năm được quyền thế chấp, chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất hợp pháp, đặt mục tiêu giải phóng khoảng 1.500 tỷ đồng nguồn vốn ứ đọng trong doanh nghiệp giai đoạn 2018 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ quản lý Nhà nước về đất đai và cơ quan thuế tại các địa phương đô thị hóa (đặc biệt là khu vực thành phố Thủ Đức và Thành phố Hồ Chí Minh) sẽ tìm thấy phương pháp luận chi tiết để chuẩn hóa quy trình thu thuế, thẩm định phương án bồi thường tái định cư và nâng cao hiệu quả thu ngân sách.

Nhóm chuyên gia định giá, các chủ đầu tư dự án bất động sản và tổ chức tín dụng có thể khai thác mô hình phân tích chi phí tài chính đất đai, phương pháp tính khấu trừ tiền sử dụng đất và cách thức quản trị rủi ro pháp lý đối với các dự án quy mô vốn trên 5.000 tỷ đồng.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý đất đai, Kinh tế phát triển, Tài chính công có được nguồn tư liệu tham khảo toàn diện với hệ thống lý thuyết địa tô chuyên sâu và bộ dữ liệu khảo sát thực tế 200 mẫu điều tra chuẩn mực.

Nhóm hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại các đô thị đang quy hoạch nắm bắt được cơ chế xác định nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích sử dụng đất, quyền lợi hưởng chính sách giảm 50% tiền sử dụng đất đối với hộ nghèo trong hạn mức quy định và quy trình giải quyết khiếu nại giá đất bồi thường.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng "hai giá" đất tại Quận 9 giai đoạn 2011 - 2016 là gì? Tình trạng hai giá xuất phát từ việc bảng giá đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành bị giới hạn bởi khung giá trần - sàn của Chính phủ. Giá quy định tại các khu tái định cư như Kiến Á chỉ bằng khoảng 20% đến 35% giá thị trường, khiến người dân kê khai giảm giá trị hợp đồng để tiết kiệm 2% thuế thu nhập cá nhân.

Nguồn thu từ đất đai chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong cơ cấu ngân sách tại Thành phố Hồ Chí Minh? Theo số liệu thống kê giai đoạn khảo sát, nguồn thu từ đất đai chiếm tỷ trọng từ 8,27% đến 13,20% tổng thu ngân sách thành phố. Riêng các khoản thu lệ phí trước bạ và tiền thuê đất năm 2011 đã mang lại nguồn thu hơn 1.212 tỷ đồng, khẳng định đất đai là nguồn vốn ngân sách chủ lực.

Cơ chế khấu trừ tiền bồi thường giải phóng mặt bằng hiện hành gặp rào cản gì? Rào cản lớn nhất là thủ tục xác định chi phí bồi thường thực tế thường kéo dài và không đồng nhất giữa các cơ quan quản lý. Doanh nghiệp phải ứng trước 100% kinh phí bồi thường theo giá thị trường nhưng mức được khấu trừ vào tiền sử dụng đất lại bị khống chế theo bảng giá quy định, làm đình trệ dự án.

Luật Đất đai quy định sự khác biệt nào giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài khi thuê đất? Tổ chức nước ngoài được lựa chọn trả tiền thuê đất một lần cho toàn bộ thời gian thuê và có đầy đủ quyền chuyển nhượng, trong khi tổ chức trong nước nếu thuê đất trả tiền hàng năm không được quyền bán tài sản gắn liền với đất, gây khó khăn cho việc bảo toàn vốn nhà nước.

Kinh nghiệm quốc tế nào có tính khả thi cao nhất để áp dụng tại đô thị Việt Nam? Mô hình đánh thuế bất động sản theo 75% giá thị trường của Thụy Điển và cơ chế lập công ty phát triển quỹ đất thương mại tại Thượng Hải (Trung Quốc) là hai giải pháp tối ưu, giúp chính quyền điều tiết từ 20% đến 30% giá trị địa tô tăng thêm do đầu tư công.

Kết luận

Luận văn đã thực hiện một công trình nghiên cứu độc lập, có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao với các đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chính sách tài chính đất đai dựa trên lý thuyết địa tô Mác-xít và giá trị vị thế bất động sản hiện đại.
  • Phân tích chi tiết chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội và tài chính đất đai trên 11.389,62 ha đất tự nhiên của Quận 9 suốt giai đoạn 2011 - 2016.
  • Đánh giá thực trạng điều tra 200 hộ gia đình, chỉ rõ sự bất cập của cơ chế hai giá khiến khoảng 70% giao dịch đất đai diễn ra không chính thức.
  • Tổng kết kinh nghiệm quốc tế từ Úc, Thụy Điển, New Zealand, Thượng Hải để đề xuất lộ trình định giá đất khoa học.
  • Xác lập 4 nhóm giải pháp đột phá về điều tiết giá trị đất tăng thêm từ hạ tầng công, chuẩn hóa khấu trừ tiền bồi thường và bình đẳng quyền thuê đất cho doanh nghiệp.

Lộ trình triển khai tiếp theo trong giai đoạn 2018 - 2025 đòi hỏi sự phối hợp liên ngành nhằm số hóa cơ sở dữ liệu địa chính và chuẩn bị hành lang pháp lý cho việc sửa đổi Luật Đất đai. Độc giả, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý hãy nghiên cứu toàn văn luận văn thạc sĩ này để áp dụng hiệu quả các mô hình định giá và chính sách tài chính đất đai vào thực tế.