PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một trong những thị trường nhận được sự quan tâm đặc biệt của các doanh nhân Nhật Bản. Tính từ đầu năm 2012 đến nay, trong số 32 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư mới vào 31 tỉnh, thành phố của Việt Nam, Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu với số vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,86 tỷ USD, chiếm 67,1% tổng vốn đầu tư mới vào Việt Nam. Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã kêu gọi giới doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ hiện còn yếu kém và cam kết xây dựng một vài khu công nghiệp dành riêng cho các doanh nghiệp Nhật Bản.
Chính điều này cùng với việc đồng yên tăng giá đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhật Bản ồ ạt tiến vào thị trường Việt Nam với qui mô bình quân đầu tư 8,8 triệu USD/dự án. Nhờ việc thực hiện các chính sách mời gọi đầu tư hợp lý, Việt Nam đã trở thành một trong những điểm đến hàng đầu trong danh sách lựa chọn của các doanh nghiệp Nhật Bản trong năm 2011 với tổng kim ngạch đầu tư là 1,84 tỷ USD. Đặc biệt, sau khủng hoảng động đất, sóng thần hồi tháng 3/2011, Chính phủ Nhật Bản tập trung tái thiết đất nước và định hướng các doanh nghiệp trong nước mở rộng đầu tư ra nước ngoài, quan tâm hơn cả đến thị trường châu Á, trong đó có Việt Nam, tạo ra tác động lan tỏa sâu rộng đối với nền kinh tế. Nhiều năm nay, Nhật Bản không chỉ nằm trong tốp các nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất, mà còn là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam.
Điều này cho thấy quan hệ Việt Nam và Nhật Bản đã trở nên khăng khít, mật thiết hơn bao giờ hết. Tình hình quốc tế cũng như trong khu vực đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thúc đẩy mối quan hệ giữa hai nước ngày một sâu sắc hơn. 2 Với nền kinh tế đang trên con đường phát triển và mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Nhật Bản đã thu hút số lượng người Việt Nam theo học tiếng Nhật tăng lên. Để có thể am hiểu ngôn ngữ quốc gia nói chung và Nhật ngữ nói riêng thì trước hết ngữ pháp và từ vựng là hai yếu tố không thể thiếu.
Để học tốt tiếng Nhật ngoài việc học nhiều từ và ngữ pháp thì việc học trợ từ đóng một vai trò rất quan trọng. Chúng ta biết được ý nghĩa của câu thông qua từ và ngữ pháp nhưng để hiểu đúng ý nghĩa đó thì phải dựa vào trợ từ. Trong đó [WA(は)]và [GA(が)] là hai trợ từ mặc dù có cùng nghĩa và có thể thay thế cho nhau nhưng khi sử dụng thì ý nghĩa của câu sẽ bị thay đổi. Trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] đi sau danh từ đóng vai trò làm chủ ngữ.
Trong một câu có hai chủ ngữ thì yêu cầu sử dụng chính xác hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] là điều cần thiết để hiểu đúng ý nghĩa của câu. Là sinh viên trường Đại học Lạc Hồng, khoa Đông Phương Học, chuyên nghành Nhật Bản học. Người viết nhận thấy tầm quan trọng của hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] do đó người viết muốn tìm hiểu về hai trợ từ này và điều kiện để thành lập một câu có sử dụng [WA( は)]và [GA(が)]. Lịch sử nghiên cứu đề tài - Tài liệu tiếng Việt về đề tài gồm có: Giang Thị Thanh Nhã, Ban Biên tập trường Đại Học Ngoại Ngữ- Đại học Quốc Gia Hà Nội (2007), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế nghiên cứu và dạy- học tiếng nhật, Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội, tập hợp các đề tài nghiên cứu trong đó có đề tài nghiên cứu về trợ từ [WA(は)]và [GA(が)].
Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp tiếng Việt,Nhà xuất bản Giáo Dục là cuốn sách giới thiệu về các loại từ, đặc điểm cấu tạo và chức năng cũng như ý nghĩa của các loại từ. 3 Hoàng Văn Hành (chủ biên), Hà Quang Năng, Nguyễn Văn Khang (2008), Từ tiếng việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam – viện ngôn ngữ học, nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn viết về từ và cấu trúc từ trong tiếng Việt. -Tài liệu tiếng Nhật về đề tài gồm có: 野田尚史 (1985,2005), “日本語文法セルフ.マスターシリーズ1はとが”, く ろしお出版 khái quát về cách sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] và có các bài tập áp dụng trong từng trường hợp. 野田尚史(1996), “新日本語文法選書1「は」と「が」” ,くろし出版 khái quát về đặc điểm và chức năng của hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)], đưa ra những trường hợp và đối tượng được sử dụng cùng hai trợ từ này.
Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu a) Mục tiêu: Người viết chọn đề tài “ Tìm hiểu về trợ từ [WA(は)] và[GA(が)] trong tiếng Nhật” mục tiêu trước hết là muốn khái quát lại về định nghĩa, đặc điểm, cấu tạo, chức năng của trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật. Mục tiêu thứ hai là tóm tắt, giải thích ý nghĩa rõ ràng, hình thức sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật, giúp người học sử dụng chính xác từng tình huống. Mục tiêu thứ ba là so sánh, đối chiếu tìm ra những điểm tương đồng - khác biệt giữa hai trợ từ Việt- Nhật về đề tài này. b) Phạm vi nghiên cứu: Hình thức trình bày về cách sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật trong luận văn này không phải là toàn bộ cách sử dụng của hai trợ từ.
Người viết chỉ đề cập đến những cách sử dụng cơ bản trong những trường hợp cụ thể. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong đề tài này với mục đích “Tìm hiều về trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật” người viết đã sử dụng một số phương pháp sau đây: - Thống kê: Từ những tài liệu tìm được (sách, báo, tạp chí,…) người viết thống kê và sắp xếp những hàng mục. - Phương pháp phân tích: phân tích chức năng và ý nghĩa của hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)]. - Phương pháp so sánh, đối chiếu : So sánh chức năng và ý nghĩa của hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] với trợ từ “ thì” trong tiếng Việt.
Những đóng góp của đề tài Khái quát lại về định nghĩa, đặc điểm, cấu tạo, chức năng, vai trò, giải thích ý nghĩa rõ ràng và hình thức sử dụng trợ từ [WA(は)] và [ GA(が)] trong tiếng Nhật, giúp người học sẽ có thêm kiến thức về hai trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] để hiểu đúng ý nghĩa trong câu và sử dụng chính xác từng tình huống. Cấu trúc của đề tài Chƣơng I: Giới thiệu về trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] tiếng Nhật Chƣơng II: Hình thức sử dụng [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật và điều kiện thành lập một câu vừa sử dụng [WA(は)] và [GA(が)] Chƣơng III: Một số giải pháp về cách học trợ từ trong tiếng Nhật 5 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng I: Giới thiệu về trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật. Chƣơng II: Hình thức sử dụng trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật và điều kiện thành lập một câu vừa sử dụng [WA(は)] và [GA(が)]. Chƣơng III: Một số giải pháp về cách học trợ từ trong tiếng Nhật 6 CHƢƠNG I GIỚI THIỆU VỀ TRỢ TỪ [WA(は)] VÀ [GA(が)] TRONG TIẾNG NHẬT 7 1.1 Định nghĩa trợ từ [WA(は)] và [GA(が)] trong tiếng Nhật Trợ từ tiếng Nhật có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện tính chắp dính và có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngữ pháp tiếng Nhật.
Có thể nói, mọi ý nghĩa ngữ pháp, ngữ dụng… đều được thể hiện bằng trợ từ. Xét một cách tổng quát thì trợ từ tiếng Nhật là những phân từ đánh dấu chức năng ngữ pháp hay biểu thị các kiểu quan hệ ngữ nghĩa của các từ mà chúng đi kèm trong câu. Có thể nói, đặc trưng loại hình cơ bản của tiếng Nhật được thể hiện rõ nhất qua sự có mặt của các trợ từ và hoạt động tích cực của chúng trong câu. Trợ từ tiếng Nhật có những đặc điểm cơ bản sau: - Về hình thức, trợ từ là những từ có hình thức tương đối ngắn (từ 1 đến 4 âm tiết).
- Về mặt ý nghĩa, trợ từ khác với danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ… ở chỗ chúng không có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa thực để biểu thị tên gọi, biểu thị hoạt động, trạng thái hay tính chất và số lượng của sự vật hay ý nghĩa xưng hô, chỉ định thay thế tên gọi của sự vật… Tuy nhiên, không thể coi chúng là những từ hoàn toàn trống nghĩa. Ý nghĩa cơ bản của trợ từ là biểu thị quan hệ, tuỳ theo vị trí của chúng trong câu và các từ loại mà chúng đi cùng. - Về chức năng, trợ từ tiếng Nhật không có khả năng làm trung tâm của cụm từ hay làm thành phần chủ ngữ và vị ngữ trong câu. Trợ từ chủ yếu biểu hiện ý nghĩa ngữ Pháp, các quan hệ ngữ pháp, xác định vị trí của các thành phần câu.
- Trong câu, trợ từ không có khả năng đứng độc lập mà luôn tồn tại bên cạnh một từ nào đó, như cái “nhãn” của nó. Chính nhờ có trợ từ mà trật tự từ của các thành phần câu – trừ vị ngữ - là tương đối tự do. Sự thay đổi vị trí của các thành phần câu không làm ảnh hưởng đến ý nghĩa cơ bản của câu. Nói chung, vị trí của trợ từ thay đổi, chức năng ngữ pháp và chức năng ngữ nghĩa cũng thay đổi.
- Về loại, trợ từ tiếng Nhật có nhiều loại, với những chức năng khác nhau. Dựa trên tiêu chí hình thức (vị trí của trợ từ trong câu) và tiêu chí chức năng (khả năng kết hợp với các từ loại nào), trợ từ được chia thành nhiều nhóm khác nhau. 8 [WA(は)] nghĩa là "thì" trong tiếng Việt là trợ từ đi sau danh từ đóng vai trò làm chủ ngữ trong câu, là một trợ từ có nhiều chức năng được dùng để chỉ một người hay sự việc đã được giới thiệu từ trước mà người nói lẫn người nghe đều quen thuộc (danh từ, tên. dùng để chỉ những thông tin, giải thích, thực tế, phong tục có thể dùng với những trợ từ như [NI(に)], [DE(で)], [KARA(から)], [MADE(まで)] (hai trợ từ) để làm nổi rõ.
[WA(は)] còn có thể dùng thay trợ từ [O(を)] để nhấn mạnh đối tượng. [ GA(が)] có thể dịch là “về phần.” hay “ Nói về…” được dùng khi tình trạng hay sự việc mới vừa xảy ra hay mới được giới thiệu.Chủ đề có thể là bất cứ gì mà người đối thoại muốn nói, thường dùng cho quán ngữ (cụm từ được dùng theo thói quen).Trong tiếng Nhật trợ từ [ GA(が)] có thể thay thế trợ từ [WA(は)] và làm cho ý nghĩa của câu thay đổi.