Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về “phương pháp học” và “phương pháp học Hán tự” Theo David Hayden (2020), “phương pháp học tập” là các hoạt động được thực hiện một cách cẩn trọng nhằm giúp quá trình thụ hưởng tri thức (quá trình học tập) được diễn ra một cách hiệu quả nhất ở mức độ cá nhân, nhóm hoặc tổ chức. Theo Nguyễn Văn Tiến (2017), “phương pháp” được hình thành từ quá trình tích lũy chủ động và tích cực của con người.
Phương pháp học tập chính là sự kết tinh từ công việc học tập nghiêm túc thường xuyên của mỗi người. Sinh viên được coi là những con người đã trưởng thành, nên việc dạy và học ở đại học luôn hướng sinh viên đến sự tự giác và tự chịu trách nhiệm về kết quả học tập của mỗi cá nhân. Vậy “phương pháp học tập” có thể hiểu là các cách thức, đường lối có tính hệ thống được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề về học tập. Hoặc có thể hiểu là những cách thức hay đường lối học tập mà khi chúng ta đầu tư vào với những khoảng thời gian hợp lí và mang lại hiệu quả cao, giúp người học hiểu rõ và nắm bắt được nội dung của bài học thì được gọi là phương pháp học tập.
Từ đó, ta có thể hiểu “phương pháp học Hán tự” là những cách thức học tập và ghi nhớ Hán tự được người học tích lũy, đúc kết và sử dụng thường xuyên trong quá trình học. Khái niệm về “môi trường học tập” Theo Phạm Hồng Quang (2006), môi trường giáo dục còn là toàn bộ cơ sở vật chất, tinh thần mà trong đó con người được giáo dục đang sống, lao động và học tập được sử dụng nhằm tác động đến sự hình thành nhân cách của họ phù hợp với mục đích giáo dục đã định. Môi trường giáo dục rất đa dạng, có thể phân chia một cách tương đối thành môi trường xã hội (gồm môi trường gia đình, môi trường nhà trường…) và môi trường tự nhiên. Theo Phạm Hồng Quang, môi trường học tập là 16 tập hợp những yếu tố về không gian, nhân lực, tài lực, vật lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc học tập đạt kết quả tốt.
Môi trường học tập của sinh viên đại học theo Đại từ điển tiếng Việt (1998) thì “Môi trường là tất cả những gì bao quanh sự vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh, có tác động trực tiếp lên sự sinh sống, phát triển và sinh sản của sinh vật”. Như vậy, theo Nguyễn Minh Châu (2012), môi trường học tập của sinh viên đại học chính là tất cả các yếu tố bên ngoài có liên quan, tác động, chi phối hoạt động học tập của sinh viên. Các yếu tố này bao gồm: điều kiện sinh hoạt, giải trí, các mối quan hệ giao tiếp, điều kiện học tập, cũng như nội dung và phương pháp học ở bậc đại học… Như vậy, môi trường học tập Hán tự cũng là một phần nhỏ trong môi trường học tập. Ở nghiên cứu này nhóm sử dụng khái niệm môi trường học tập Hán tự là tập hợp những yếu tố về không gian học tập (trường học, giảng đường, ở nhà,…), con người (với giảng viên, bạn bè, hay 1 mình), tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc học tập Hán tự mà người học cảm thấy thoải mái và phù hợp để đạt kết quả tốt.
Khái niệm về “Hán tự” Hán tự hay còn được gọi là Kanji (漢字), cũng là chữ Hán tiếng Nhật, là chữ Hán được dùng để viết tiếng Nhật. Chúng tôi xin được dùng “Hán tự” và “Kanji” là 2 từ đồng nghĩa. Với vai trò là kí tự biểu nghĩa, Kanji cùng với hai dạng kí tự biểu âm là Hiragana và Katakana kết hợp với nhau để trở thành một bộ văn tự chính của tiếng Nhật hiện đại. Về nguồn gốc của Hán tự: Theo Toshiyuki Obata (1990), nguồn gốc của Hán tự là chữ mai rùa (xương cốt) được khắc trên mai rùa hay xương động vật.
Theo Trần Sơn (1995),văn tự đầu tiên ở Nhật Bản là chữ Hán. Người Nhật đã mượn chữ Hán của Trung Quốc theo 3 cách chính: - Một là mượn đủ 3 mặt: chữ, âm và nghĩa, hay còn gọi là mượn nguyên xi. 17 - Hai là mượn 2 mặt: có 2 cách là chỉ mượn chữ và âm hoặc chỉ mượn chữ và nghĩa. Cách mượn này rất phức tạp.
- Ba là mượn 1 mặt: tức là chỉ mượn chữ. Đây là cách mượn đặc biệt vì nó dùng văn tự biểu ý của tiếng Hán làm văn tự biểu âm cho tiếng Nhật (Manyogana), được biết đến nhiều nhất là sự ra đời của Hiragana và Katakana. Từ khi người Nhật tiếp xúc với văn bản Hán tự của Trung Quốc (thế kỉ III TCN), họ đã đi từng bước từ nhận biết, hình thành cách đọc rồi dần đến mượn văn tự và tạo cách đọc cho riêng mình. Từ đó, từ Hán Nhật (từ tiếng Nhật có nguồn gốc từ chữ Hán) trở thành một hệ thống từ vựng với số lượng chiếm tuyệt đối trong tiếng Nhật.
Theo Nguyễn Thị Oanh (2017), truyền tải chữ Hán đến Nhật Bản lúc bấy giờ là những ông đồ người Trung Quốc và Triều Tiên trong thời kì giao lưu văn hóa kinh tế (khoảng thế kỉ V TCN). Lúc đầu người Nhật dùng Manyogana (giữa thế kỉ VII SCN, lấy nguồn gốc từ tập thơ thời kì Nara, Manyogana được sử dụng như một hệ thống chữ viết cổ sử dụng Hán tự để diễn đạt tiếng Nhật) là chính. Từ cuối triều đại Nara, tức khoảng giữa thế kỉ XVIII trở về sau, người ta đã chọn những chữ Hán đơn giản để ghi Manyogana, và đó chính là bước chuẩn bị để cho chữ Katakana và Hirakana ra đời. Chữ Hiragana có lẽ được xuất hiện từ trung kỳ thời Heian (thế kỉ XIX) theo phong cách viết thảo, còn Katakana được các nhà sư Phật Giáo phát triển dựa vào các phần của Manyogana, dùng như một dạng tốc ký.
Sau khi ra đời, Hiragana và Katakana được phổ biến rộng rãi trong thời gian ngắn, cùng với Hán tự nó đã trở thành ký tự không thể thiếu trong tiếng Nhật cho tới tận ngày nay. Trong việc sử dụng chữ Hán, người Nhật còn biết dùng chúng để tạo nên những chữ Hán mới, gọi là Waseikanji (和製漢 字 ) - Chữ Hán do người Nhật sáng chế. Nguyên tắc tạo nên Waseikanji là “văn tự hội ý”, dùng các bộ thủ và cả chữ Hán cùng cấu tạo nên chữ mới. Như vậy, bằng một lối quan sát và liên tưởng các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan, người Nhật đã tạo ra được nhiều chữ Hán mới, bổ sung vào kho từ vựng, làm cho nó luôn phong phú và đa dạng.
Về đặc điểm của Hán tự: 18 Theo Masashi Mine (1998), Hán tự được sử dụng để viết một số thành phần trong câu như danh từ, động từ, tính từ và tên riêng. Hiragana được dùng để viết đuôi động từ (okurigana), trợ từ, từ chỉ có trong tiếng Nhật hay những từ mà nếu biểu thị bằng Hán tự thì khó đọc. Các yếu tố của Hán tự được quan tâm khi học Hán tự thường là hình dạng, ý nghĩa, âm đọc, âm Hán Việt (đối với người Việt), nét viết,. Hán tự có 2 âm đọc: âm ON (音読み: “Âm Độc”) còn gọi là âm Hán Nhật và âm KUN (訓読み, "Huấn Độc") còn gọi là âm thuần Nhật.
Âm ON là do mượn âm tiếng Hán của Hán tự, còn âm KUN là mượn nghĩa của Hán tự. Ở mỗi chữ Kanji, âm ON và âm KUN có thể có nhiều cách đọc, kể cả cách đọc đặc biệt. Nhưng cũng có khi Kanji chỉ có âm ON, mà không có âm KUN. Có nhiều quy tắc đọc cho những trường hợp khác nhau, song cũng có nhiều trường hợp ngoại lệ.
Nhưng thông thường, Hán tự có quy tắc đọc như sau: - Âm ON: sử dụng âm ON cho các từ ghép Kanji, thường xuất hiện dưới dạng 2 chữ Kanji trở lên nằm kế nhau. Ví dụ: 研 究 ( kenkyuu, “nghiên cứu”), 科 学 (kagaku, “khoa học”), 教育 (kyouiku, “giáo dục”),. - Âm KUN: sử dụng âm KUN cho những chữ Kanji đứng độc lập một mình, đằng sau có đuôi okurigana. Ví dụ: 学 ぶ (manabu, “học tập”), 教 え る (oshieru, “dạy học”), 白い (shiroi, “trắng”), 古い (furui, “cũ”),.
- Cũng có rất nhiều trường hợp dù 2 chữ Hán đứng cùng nhau, nhưng không đọc bằng âm ON, mà đọc bằng âm KUN và ngược lại. Những trường hợp này ngoại lệ nhưng không hiếm trong tiếng Nhật. Ví dụ: 手 紙 (tegami, “thư”), 神 様 (kamisama, “vị thần”),. - Thông thường, tên người, tên địa danh ở Nhật cũng dùng âm KUN.
Ví dụ: 大 阪 (tên tỉnh thành: Osaka),青森 (tên tỉnh thành: Aoimori), 田中 (tên người: Tanaka), 春 子 (tên người: Haruko),.nhưng cũng có chữ dùng âm ON như 東 京 (tên tỉnh thành: Tokyo), 北海道 (tên tỉnh thành: Hokkaido),. 19 Theo Đại Hán - Hòa từ điển (1955 -1960), từ điển chữ Hán trong tiếng Nhật do Morohashi Tetsuji biên soạn chứa đựng 50.000 chữ ghép từ chữ Hán và được đánh giá là đầy đủ nhất. Nhưng trên thực tế, để có thể đọc hiểu được văn bản tiếng Nhật, người học chỉ cần nhớ từ khoảng 2000 đến 3000 chữ thông dụng. Vai trò của Hán tự 1.
Lợi ích của Hán tự trong học tập Theo Yoshiko Mori (2012), có thể khi mới học từ mới, Hiragana giúp người học ghi nhớ dễ dàng hơn. Tuy nhiên khi đã đạt đến trình độ để viết ra những câu văn hoàn chỉnh, nếu viết bằng Hiragana, người học có thể sẽ không hiểu những gì mình viết ra. Ta có thể nhìn 2 câu bên dưới và so sánh: - Câu văn viết hoàn toàn bằng chữ Higarana: ひらがなでかいたぶんしょがみにくいですね。 - Câu văn có sử dụng Hán tự: ひらがなで書いた文書が見にくいですね。 Vì tiếng Nhật không có dấu cách nên câu văn viết hoàn toàn bằng chữ Higarana sẽ không có sự phân biệt khoảng cách giữa các từ vựng. Điều này cũng tương tự đối với câu văn dùng hoàn toàn chữ Katakana.
Đối với câu văn có sử dụng Hán tự, các từ vựng được phân biệt rõ hơn. Hơn nữa, Hán tự giúp người học nhanh chóng hiểu được sơ lược ý nghĩa của câu. Ví dụ nếu như khi nhìn vào dòng đầu tiên, chỉ toàn Hiragana, người đọc sẽ rất khó để nắm được nội dung của văn bản. Nhìn tiếp dòng thứ hai, ở đây một số Hiragana đã được chuyển thành Hán tự, câu văn đã có sự phân cách giữa các từ nên câu văn đã không còn bị rối.
Chúng ta có thể hiểu sơ ý câu văn 1 qua các Hán tự như sau: 書 nghĩa là viết, 文書 nghĩa là tài liệu, 見 nghĩa là nhìn.