CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Vai trò và đặc điểm ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân 1.1 Vai trò của ngành xây dựng trong nền kinh tế quốc dân Trong những năm qua, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh ở châu Á. Trong những thành tựu chung đó có sự đóng góp của ngành xây dựng, một ngành có mức tăng trưởng cao, tạo ra giá trị sản lượng lớn và góp phần giải quyết nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Đây cũng là ngành rất coi trọng việc áp dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ vào sản xuất, thi công. Một số công trình quan trọng đó được khởi công xây dựng và hoàn thành đưa vào sử dụng, tiêu biểu như: Thủy điện Hoà Bình, Trị An, Nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Nhà máy super phốt phát Lâm Thao, giấy Bãi Bằng, Apatit Lào Cai, Nhà máy Kính Đáp Cầu, Giấy Tân Mai, Xi măng Hà Tiên, công trình dầu khí Vũng Tàu, Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt - Xô, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh; các công trình phục vụ giao thông tiêu biểu trong thời gian gần đây như: cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Phú Mỹ, đại lộ Đông Tây, hầm Thủ Thiêm.
Các công trình có tầm vóc lớn như thế đó thể hiện bước tiến nhảy vọt và cống hiến đáng ghi nhận của ngành xây dựng, góp phần không nhỏ vào quá trình xây dựng những ngành công nghiệp thiết yếu phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ năm 2001 đến nay, cùng với nền kinh tế cả nước đang trên đà phát triển và hội nhập, ngành Xây dựng Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả các kế hoạch và chiến lược phát triển trong các lĩnh vực của ngành như: Quy hoạch tổng thể vật liệu xây dựng đến năm 2020; Quy hoạch điều chỉnh sản xuất xi măng đến năm 2020; Định hướng phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030; Định hướng phát triển kiến trúc Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Định hướng phát triển cấp nước và thoát nước đô thị đến năm 2020; Chiến lược quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp đến năm 2020; Chiến lược cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020. Mạng lưới đô thị quốc gia đó được sắp xếp lại, mở rộng và phát triển gồm 725 đô thị, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 cùng với các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu đó góp phần tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở cả hai khu vực đô thị và nông thôn cả nước. Ngày nay khi đời sống kinh tế ngày càng phát triển thì cuộc sống sinh hoạt của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người sẽ nâng lên một tầm cao mới.
Do đó ngành xây dựng trong giai đoạn hiện nay có nhiệm vụ mới đó là ngoài việc tạo cơ sở vật chất cho việc phát triển kinh tế còn phải xây dựng những công trình dân sinh phục vụ cuộc sống sinh hoạt, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi của con người. Chính vì vậy mà vai trò của ngành xây dựng ngày càng trở lên quan trọng hơn. Mỗi năm có hàng ngàn các công trình xây dựng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chiếm khoảng 40% các công trình được xây dựng mới của cả nước, con số này cho thấy rằng nhu cầu về xây dựng ngày càng lớn mà ngành xây dựng là ngành có tính thời đại mỗi năm, mỗi tháng lại có các công trình mới và nhu cầu của con người cũng được cập nhật liên tục theo sự phát triển đó. Cùng với sự phát triển của thế giới thì ngành xây dựng Việt Nam cũng có những hạn chế nhất định.
Những mặt mạnh hiện nay là ngành xây dựng Việt Nam đang phát triển khá mạnh mẽ, về nhân sự cũng như vốn đầu tư, trình độ năng lực của các công ty có sự quan tâm đầu tư, chính vì điều này mà họ đó cho ra được các công trình lớn phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Việt Nam ngày càng có nhiều các kỹ sư giỏi đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên bên cạnh những mặt mạnh như vậy thì ngành xây dựng của Việt Nam cũng gặp phải một số các khó khăn cơ bản sau: + Thứ nhất nguồn nhân lực có thể nói là chưa hoàn thiện, bên cạnh những kỹ sư được đào tạo chính quy trong nước, những chuyên gia xây dựng có bằng cấp quốc tế nhưng nói chung là chưa đồng đều ở các địa phương, lao động có trình độ cao tập trung phần lớn ở các thành phố lớn; bên cạnh đội ngũ lao động có trình độ đó là lực lượng lao động phổ thông chưa được đào tạo về tay nghề, chưa có trình độ chuyên môn đang chiếm tỷ trọng lớn nên hàng năm tai nạn nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng chiếm tỷ trọng rất lớn cũng như năng xuất lao động chưa cao. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 + Thứ hai cơ sở vật chất kỹ thuật, nguyên vật liệu của ngành mới chỉ ở mức sơ khai, lạc hậu do đó chưa đáp ứng được nhu cầu ở mức cao của khách hàng. + Khi Việt Nam gia nhập WTO thì ngày càng có các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, họ có cơ sở vật chất hiện đại, nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu có kỹ năng tay nghề nên đó khiến cho các tập đoàn xây dựng của chúng ta phải cạnh tranh gay gắt.
+ Khi các tập đoàn xây dựng của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngoài việc trình độ của họ cao và chất lượng sản phẩm cao đã tạo nên các thành công lớn. Ngoài việc chứng tỏ chất lượng của họ cao và đảm bảo đáp ứng yêu cầu của khách hàng thì họ cũng có rất nhiều hoạt động khác bổ trợ cho mình. Trong khi đó các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam hầu hết hoạt động dựa trên các mối quan hệ kinh doanh truyền thống mà chưa thực hiện một biện pháp khá hiệu quả đó là Marketing.2 Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành xây dựng Khái niệm về sản phẩm xây dựng: - Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành, bao gồm cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong. - Sản phẩm xây dựng là kết tinh của các thành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhất định.
- Sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham gia chế tạo sản phẩm chủ yếu: các chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp; các doanh nghiệp tư vấn xây dựng; các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tư thiết bị xây dựng; các doanh nghiệp cung ứng: các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tài chính; các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ xây lắp được tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị công nghệ và lao động, gắn liền với đất. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành xây dựng có thể xem xét ở hai hướng: * Đặc điểm của sản phẩm xây dựng: Ngành xây dựng có những đặc thù riêng vì thế cần được nghiên cứu riêng. Các đặc thù ở đây chia ra làm 4 nhóm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 - Bản chất tự nhiên của sản phẩm; - Cơ cấu của ngành cùng với tổ chức quá trình xây dựng; - Những nhân tố quyết định nhu cầu; - Phương thức xác định giá cả.
Sản phẩm xây dựng với tư cách là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có những đặc điểm sau: - Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cơ cấu và cả về phương diện chế tạo. - Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàng của chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng. - Sản phẩm là những công trình được xây dựng tại chỗ. Vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài.
- Sản phẩm thường có kích thước lớn và trọng lượng lớn. - Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình. - Sản phẩm xây dựng liên quan đến cảnh quan môi trường và môi trường tự nhiên, do đó liên quan nhiều đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặt công trình. - Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa - nghệ thuật và quốc phòng.
Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc, mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt… Có thể nói sản phẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học - kỹ thuật và văn hoá trong từng giai đoạn phát triển của một đất nước. * Đặc điểm của quá trình sản xuất xây dựng Xuất phát từ tính chất và đặc điểm của sản phẩm xây dựng ta có thể rút ra một số đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu của sản xuất xây dựng như sau: - Sản xuất thiếu tính ổn định, có tính lưu động cao theo lãnh thổ. Đặc điểm này kéo theo một loạt các tác động gây bất lợi sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 + Thiết kế có thể thay đổi theo yêu cầu của chủ đầu tư về tính công dụng hoặc trình độ kỹ thuật, các vật liệu. + Các phương án công nghệ và tổ chức xây dựng phải luôn luôn biến đổi phù hợp với thời gian và địa điểm xây dựng, phương pháp tổ chức sản xuất và biện pháp kỹ thuật cũng luôn thay đổi cho phù hợp với mỗi công trình xây dựng.
- Thời gian xây dựng công trình dài, chi phí sản xuất lớn. Đặc điểm này gây nên các tác động sau: Làm cho vốn đầu tư xây dựng của chủ đầu tư và vốn sản xuất của tổ chức xây dựng thường bị động lâu tại công trình; các tổ chức xây dựng dễ gặp phải các rủi ro ngẫu nhiên theo thời gian và thời tiết, chịu ảnh hưởng của sự biến động giá cả. - Quá trình sản xuất mang tính tổng hợp, cơ cấu sản xuất phức tạp các công việc xen kẽ và ảnh hưởng lẫn nhau. Quá trình sản xuất xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia xây lắp một công trình.