Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong các giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, đói nghèo là trở ngại lớn đối với sự phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, phương pháp xác định đói nghèo truyền thống chủ yếu dựa trên tiêu chí thu nhập hoặc mức chi tiêu (phương pháp chi phí cho các nhu cầu cơ bản). Tuy nhiên, phương pháp này bộc lộ nhiều hạn chế khi không phản ánh được tình trạng thiếu hụt thực tế của người dân trong việc tiếp cận các dịch vụ công ích và nhu cầu tối thiểu phi lương thực như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin. Từ năm 2016, Việt Nam chính thức chuyển đổi sang phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững và tác động toàn diện hơn đến đời sống người dân.

Xã Yên Thành là một xã vùng 3 (vùng đặc biệt khó khăn) thuộc huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang. Mặc dù các chương trình và chính sách giảm nghèo của Nhà nước đã được triển khai, tỷ lệ hộ nghèo tại địa bàn năm 2017 vẫn chiếm tới 36,07%. Đời sống của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn chịu nhiều thiếu hụt nghiêm trọng về điều kiện sinh hoạt và hạ tầng kỹ thuật. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Vượng (chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và PTNT, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) được thực hiện nhằm phân tích thực trạng này và xác định giải pháp phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá được thực trạng giảm nghèo trên địa bàn xã, xác định được nguyên nhân dẫn đến nghèo đa chiều của địa phương, từ đó đưa ra giải pháp giảm nghèo theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều tại xã Yên Thành.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đánh giá được thực trạng nghèo đói của xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang theo hướng tiếp cận nghèo đa chiều.
    2. Phân tích được những nguyên nhân dẫn đến nghèo đói tại xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
    3. Đề xuất được các giải pháp phù hợp, để giảm nghèo trên địa bàn xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề về nghèo đa chiều của các hộ dân và giải pháp giảm nghèo tại xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu và khảo sát thực địa được thực hiện từ ngày 13/8/2018 đến ngày 23/12/2018; các mốc số liệu thống kê thứ cấp phản ánh giai đoạn 2015 - 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên các lý thuyết và quan niệm chuẩn tắc về đói nghèo trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Các khái niệm nghèo đói: Khái niệm "nghèo tuyệt đối" của Robert McNamara (khi là Giám đốc Ngân hàng Thế giới), "nghèo tương đối", định nghĩa của Liên hợp quốc (UN), định nghĩa tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do Ủy ban kinh tế xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (tháng 9/1993), và quan niệm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
  • Chuẩn mực xác định nghèo đói: Khảo sát mức sống của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới dựa trên chuẩn năng lượng 2.100 Kcal/người/ngày; chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 của Việt Nam theo mức thu nhập bình quân đầu người tại khu vực nông thôn và thành thị.
  • Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020: Căn cứ pháp lý chủ đạo là Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ. Tiêu chuẩn xác định hộ nghèo khu vực nông thôn gồm: có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống, hoặc từ trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Hộ cận nghèo nông thôn là hộ có thu nhập từ trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường. Khung đo lường gồm 5 chiều nghèo và 10 chỉ số (mỗi chỉ số tương ứng 10 điểm):
    1. Chiều Giáo dục: (1.1) Trình độ giáo dục của người lớn; (1.2) Tình trạng đi học của trẻ em.
    2. Chiều Y tế: (2.1) Tiếp cận các dịch vụ y tế; (2.2) Bảo hiểm y tế.
    3. Chiều Nhà ở: (3.1) Chất lượng nhà ở; (3.2) Diện tích nhà ở bình quân đầu người.
    4. Chiều Điều kiện sống: (4.1) Nguồn nước sinh hoạt; (4.2) Hố xí/nhà vệ sinh tiêu chuẩn.
    5. Chiều Tiếp cận thông tin: (5.1) Sử dụng dịch vụ viễn thông; (5.2) Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập các báo cáo thống kê, tài liệu phát triển kinh tế - xã hội tại UBND xã Yên Thành, văn bản chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước, ấn phẩm, tạp chí khoa học và trang thông tin điện tử liên quan.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Thực hiện quan sát trực tiếp (nhà ở, điều kiện sống, tư liệu sản xuất) và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ thông qua bảng hỏi cấu trúc sẵn với 87 phiếu điều tra.
  • Phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu được xác định theo công thức Slovin với tổng thể N = 682 hộ, sai số cho phép e = 0,1 (độ tin cậy 90%):

$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2} = \frac{682}{1 + 682 \cdot 0,1^2} \approx 87 \text{ hộ}$$

Mẫu điều tra được phân tầng qua 3 thôn đại diện cho 3 cấp độ phát triển kinh tế của xã:

  • Thôn kinh tế phát triển nhất: Thôn Yên Lập (29 hộ).
  • Thôn kinh tế phát triển trung bình: Thôn Yên Thượng (29 hộ).
  • Thôn kinh tế khó khăn nhất: Thôn Thượng Bình (29 hộ). Cơ cấu 87 hộ điều tra được chia đều theo 3 nhóm đối tượng: 29 hộ trung bình và khá (33,33%), 29 hộ cận nghèo (33,33%), 29 hộ nghèo (33,33%). Tác giả sử dụng phương pháp kiểm tra thông tin chéo giữa các hộ để kiểm soát độ tin cậy của dữ liệu sơ cấp.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để làm sạch, phân loại, tổng hợp dữ liệu, tính toán tỷ lệ phần trăm và lập các bảng thống kê so sánh.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài khi Việt Nam chuyển đổi cơ chế quản lý giảm nghèo từ đơn chiều sang đa chiều. Tác giả nêu rõ mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa học tập, ý nghĩa thực tiễn của công trình đối với công tác điều hành tại địa phương và cấu trúc luận văn gồm 5 phần chính.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tác giả hệ thống hóa các lý luận về chuẩn nghèo đơn chiều và đa chiều, trình bày chi tiết bảng chỉ số nghèo đa chiều ở Việt Nam theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg. Về cơ sở thực tiễn, tác giả đúc kết kinh nghiệm giảm nghèo quốc tế từ:

  • Hàn Quốc: Kế hoạch 10 năm cải tiến cơ cấu nông thôn (chương trình mở rộng tín dụng nông thôn, thu mua ngũ cốc giá cao, đổi giống lúa năng suất cao, phát triển hợp tác xã và sửa chữa hạ tầng).
  • Trung Quốc: Cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn từ Đại hội Đảng XII (1984), đẩy mạnh định canh định cư và chuyển dịch phương thức phân phối lao động.
  • Đài Loan: Kết hợp phát triển công nghiệp với nông nghiệp nông thôn, bàn giao ruộng đất cho nông dân lập trang trại gia đình, đầu tư hạ tầng giao thông và phổ cập giáo dục bắt buộc.
  • Braxin: Quỹ Bolsa Familia với cơ chế trợ cấp tiền mặt có điều kiện gắn liền với việc tiêm chủng y tế và đi học của trẻ em. Đồng thời, phần này lược thuật kinh nghiệm thực tế trong nước từ tỉnh Tuyên Quang (hỗ trợ giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch), huyện Phú Bình - tỉnh Thái Nguyên (giảm nghèo từ trên 24% năm 2011 xuống 10,3%), và huyện Quảng Uyên - tỉnh Cao Bằng (giảm tỷ lệ nghèo từ 43,55% năm 2016 xuống 39,16% năm 2017).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng khảo sát là các hộ gia đình và thực trạng giảm nghèo tại xã Yên Thành trong khung thời gian từ 13/8/2018 đến 23/12/2018. Tác giả trình bày phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp, quy trình tính toán mẫu đại diện bằng công thức Slovin với quy mô 87 hộ trên tổng thể 682 hộ, phân bố tại 3 thôn (Yên Lập, Yên Thượng, Thượng Bình) và quy trình xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm bảng tính.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ dữ liệu thực địa về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội và thực trạng nghèo tại địa bàn.

Về điều kiện đất đai và tài nguyên: Năm 2017, tổng diện tích tự nhiên của xã biến động qua các nhóm đất cụ thể:

Chỉ tiêu đất đai Năm 2015 (ha) Năm 2016 (ha) Năm 2017 (ha) Tốc độ tăng trưởng 2017/2016 (%)
Đất nông nghiệp 4.344,24 4.343,45 4.340,04 99,92
- Đất lúa nước 329,45 323,64 307,90 95,14
- Đất trồng lúa nương 4,89 4,65 3,63 78,06
- Đất trồng cây hàng năm còn lại 229,04 241,79 258,89 107,07
- Đất trồng cây lâu năm 74,97 76,03 77,24 101,59
- Đất nuôi trồng thủy sản 43,29 42,31 38,11 90,07
Đất phi nông nghiệp 130,28 132,38 137,19 104,24
- Đất chuyên dụng 52,01 52,76 55,41 105,02
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa 4,05 4,12 5,58 135,44
- Đất sông suối 43,01 43,61 43,61 100,00
Đất chưa sử dụng 31,12 29,81 28,41 95,30

Về dân số, hạ tầng và xã hội: Toàn xã có 3.464 nhân khẩu với 682 hộ; trong đó hộ nông nghiệp chiếm 91,94% (627 hộ), hộ phi nông nghiệp chiếm 8,06% (55 hộ). Lực lượng lao động trong độ tuổi là 2.563 người (74% dân số). Thu nhập bình quân đầu người đạt 22 triệu đồng/người/năm. Toàn xã có 3.654,64 ha đất lâm nghiệp (chiếm 81,1% diện tích tự nhiên). Nguồn nước sinh hoạt cho thấy: chỉ có 120/615 hộ (19,5%) sử dụng giếng đào sâu 5-10m; 496 hộ còn lại (80,5%) sử dụng trực tiếp nước suối chưa qua xử lý. Hạ tầng điện có 2 trạm biến áp, 6/8 thôn có điện lưới quốc gia, 412 hộ (60,41%) dùng điện an toàn, 2 thôn Tân Thượng và Thượng Bình chưa có điện lưới quốc gia. Nhà ở đạt chuẩn theo quy định chỉ đạt 31,52% (215 hộ), còn 49 hộ (7,18%) sống trong nhà tạm, dột nát.

Thực trạng nghèo tại 8 thôn của xã Yên Thành năm 2017:

STT Thôn Tổng số hộ Hộ nghèo (Hộ) Tỷ lệ nghèo (%) Hộ cận nghèo (Hộ) Tỷ lệ cận nghèo (%) Hộ TB, khá (Hộ) Tỷ lệ TB, khá (%)
1 Tân Thượng 32 20 62,50 10 31,25 2 6,25
2 Thượng Bình 63 50 79,37 13 20,63 0 0,00
3 Yên Lập 135 29 21,48 13 9,63 93 68,89
4 Pà Vầy Sủ 84 27 32,14 38 45,24 19 22,62
5 Yên Thượng 112 33 29,46 51 45,54 28 25,00
6 Yên Thành 57 33 57,89 10 17,54 14 24,56
7 Đồng Tiến 118 29 24,58 33 27,97 56 47,46
8 Đồng Tâm 81 25 30,86 38 46,91 18 22,22
Tổng 682 246 36,07 206 30,21 230 33,72

Qua 3 năm (2015 - 2017), số hộ nghèo toàn xã giảm từ 311 hộ (47,92%) năm 2015 xuống 280 hộ (42,36%) năm 2016 và còn 246 hộ (36,07%) năm 2017. Số hộ cận nghèo năm 2015 là 205 hộ (31,59%), năm 2016 là 178 hộ (26,93%) và năm 2017 là 206 hộ (30,21%).

Đặc điểm của nhóm 87 hộ khảo sát:

  • Tổng nhân khẩu là 409 người, trong đó hộ nghèo chiếm 157 người (38,39%), hộ cận nghèo chiếm 145 người (35,45%), hộ trung bình và khá chiếm 107 người (26,16%). Tổng số lao động là 258 người; lao động ngoài độ tuổi chiếm 17,44% (45 người), tập trung nhiều ở nhóm hộ nghèo (21 người) và cận nghèo (15 người).
  • Cơ cấu dân tộc: 85/87 hộ là người dân tộc thiểu số (chiếm 97,7%), bao gồm Mông (21 hộ), Pà Thẻn (18 hộ), Tày (17 hộ), Dao (14 hộ), La Chí (13 hộ), Mường (1 hộ). 100% hộ thuộc nhóm hộ nghèo và cận nghèo điều tra là đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Sở hữu tư liệu sản xuất và tài sản sinh hoạt: 100% hộ có điện thoại di động; 98,85% hộ sở hữu xe máy; 90,8% hộ có tivi; 82,76% hộ sử dụng điện sinh hoạt; tủ lạnh chiếm 37,93% (chủ yếu tập trung ở nhóm khá); máy tính chiếm 14,94%; máy giặt (2,3%) và bình nóng lạnh (4,6%) chỉ xuất hiện ở nhóm hộ khá. Về tư liệu sản xuất, 97,7% hộ có đất trồng cây hàng năm; 90,8% hộ có vườn cây lâu năm; 86,21% hộ có chuồng trại; 81,61% hộ có gia súc cày kéo; máy cày chiếm 16,09%; máy xát chiếm 11,49%; máy bơm chỉ chiếm 4,6%.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả đúc kết lại kết quả giảm nghèo thực tế của xã, chỉ ra các nút thắt về cơ sở hạ tầng, tỷ lệ sinh con cao, trình độ dân trí và đề xuất các kiến nghị cụ thể cho Ủy ban nhân dân xã, các tổ chức đoàn thể địa phương và các phòng ban chuyên môn cấp huyện nhằm triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ việc làm, chuyển giao kỹ thuật và đầu tư công trình thiết yếu.

Kết quả và đóng góp

Kết quả phân tích định lượng thực tế:

  • Tỷ lệ hộ nghèo tại xã Yên Thành có xu hướng giảm liên tục qua các năm (từ 47,92% năm 2015 xuống 42,36% năm 2016 và 36,07% năm 2017), tuy nhiên mức độ giảm nghèo chưa đồng đều giữa các khu vực cư trú.
  • Mức độ nghèo đa chiều phân hóa sâu sắc theo địa bàn và điều kiện hạ tầng: Các thôn vùng cao, chưa có điện lưới hoặc giao thông chia cắt có tỷ lệ nghèo rất cao, điển hình là thôn Thượng Bình (79,37%), Tân Thượng (62,50%) và Yên Thành (57,89%). Ngược lại, thôn trung tâm tiếp giáp đường lớn như Yên Lập có tỷ lệ hộ khá và trung bình chiếm tới 68,89%, hộ nghèo chỉ còn 21,48%.
  • Tình trạng nghèo gắn chặt với đặc điểm nhân khẩu và dân tộc: 100% hộ nghèo và cận nghèo điều tra là đồng bào dân tộc thiểu số; nhóm hộ nghèo có quy mô nhân khẩu đông (bình quân 5,4 người/hộ), số lao động ngoài độ tuổi cao (chiếm 21,87% số lao động của nhóm hộ nghèo), tạo ra gánh nặng phụ thuộc lớn lên các lao động chính.
  • Khóa luận bóc tách các chỉ số thiếu hụt cụ thể về dịch vụ xã hội: 80,5% hộ dân toàn xã thiếu nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh (phụ thuộc vào nước suối tự nhiên); 39,59% hộ dân chưa được dùng điện thường xuyên, an toàn (2/8 thôn hoàn toàn chưa có điện lưới); tỷ lệ nhà tạm, dột nát còn 7,18% và chỉ 31,52% hộ đạt chuẩn nhà ở.

Giải pháp do tác giả đề xuất:

  • Nhóm giải pháp chung: Tăng cường đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu (nhựa hóa, bê tông hóa các tuyến đường liên thôn, mở rộng điện lưới quốc gia cho 2 thôn Tân Thượng và Thượng Bình); quy hoạch và xử lý nước sinh hoạt nông thôn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm giảm tỷ lệ sinh con; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế lâm nghiệp (trồng rừng sản xuất keo, bồ đề, xoan) gắn với bảo vệ rừng phòng hộ.
  • Nhóm giải pháp cụ thể: Hỗ trợ vốn vay tín dụng ưu đãi gắn chặt với hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho hộ nghèo; phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn; hỗ trợ trực tiếp về vật tư xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và cải tạo nhà ở đạt chuẩn.

Đóng góp của khóa luận: Khóa luận đã áp dụng bộ công cụ đánh giá nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg vào một địa bàn cấp xã miền núi đặc thù, giúp chỉ ra rằng nghèo đói tại Yên Thành không chỉ đơn thuần là vấn đề thu nhập mà bị chi phối mạnh mẽ bởi sự thiếu hụt các điều kiện sống cơ bản (nước sạch, điện lưới, nhà tiêu hợp vệ sinh) và hạ tầng giao thông kết nối.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Quy mô điều tra sơ cấp dừng lại ở 87 hộ phân bố tại 3/8 thôn của xã do hạn chế về thời gian thực tập (từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2018) và nguồn lực nghiên cứu.
  • Các phân tích định lượng chủ yếu dừng lại ở mức độ thống kê mô tả, phân tổ và so sánh tỷ lệ thông qua Excel; chưa ứng dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc hồi quy đa biến để kiểm định định lượng mức độ tác động của từng nhân tố đến xác suất rơi vào nghèo đa chiều.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra sơ cấp đến toàn bộ 8 thôn bản của xã Yên Thành để tăng tính khái quát.
  • Cập nhật số liệu theo các khung chuẩn nghèo đa chiều mới của giai đoạn tiếp theo; xây dựng mô hình phân tích định lượng xác định mức độ tác động biên của việc tiếp cận các dịch vụ công ích đến thu nhập và chất lượng cuộc sống của hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế và Xã hội học khi nghiên cứu về phương pháp điều tra thực địa, thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật lấy mẫu theo công thức Slovin trong đánh giá nghèo đa chiều cấp vi mô.
  • Cán bộ làm công tác giảm nghèo, Lao động - Thương binh và Xã hội tại huyện Quang Bình và xã Yên Thành trong việc tham chiếu hệ thống số liệu thực địa, từ đó lập kế hoạch phân bổ nguồn lực giảm nghèo tập trung vào các chiều dịch vụ xã hội đang bị thiếu hụt nặng nề nhất.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là bảng tổng hợp các chỉ tiêu đất đai, số liệu phân loại hộ nghèo chi tiết theo từng thôn và thực trạng trang bị tài sản sản xuất, sinh hoạt của nhóm hộ đồng bào dân tộc thiểu số.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo tại xã Yên Thành năm 2017 được ghi nhận là bao nhiêu? Năm 2017, toàn xã Yên Thành có 246 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 36,07% và 206 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 30,21% trên tổng số 682 hộ dân cư.

2. Thôn nào có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất và thấp nhất tại xã Yên Thành vào năm 2017? Thôn Thượng Bình có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất xã với 79,37% (50/63 hộ là hộ nghèo, không có hộ khá/giàu). Thôn có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất là thôn Yên Lập với 21,48% (29/135 hộ là hộ nghèo, có 93 hộ trung bình và khá, chiếm 68,89%).

3. Cơ cấu mẫu khảo sát 87 hộ gia đình của đề tài được phân bổ như thế nào? Mẫu 87 hộ được xác định theo công thức Slovin từ tổng thể 682 hộ, phân bố đều tại 3 thôn đại diện: Yên Lập (29 hộ), Yên Thượng (29 hộ), Thượng Bình (29 hộ). Mẫu bao gồm 29 hộ khá/trung bình (33,33%), 29 hộ cận nghèo (33,33%) và 29 hộ nghèo (33,33%).

4. Thực trạng tiếp cận nguồn nước sinh hoạt của người dân xã Yên Thành trong văn bản được mô tả ra sao? Theo số liệu điều tra trên địa bàn xã, chỉ có 120 trong tổng số 615 hộ (chiếm 19,5%) sử dụng nước giếng đào ở độ sâu 5-10m. 496 hộ còn lại (chiếm tới 80,5%) phải sử dụng trực tiếp nguồn nước suối chưa qua xử lý, chất lượng nước không đảm bảo và không hợp vệ sinh.

5. Cơ cấu thành phần dân tộc của các hộ điều tra phản ánh đặc điểm gì về tình trạng nghèo tại địa bàn? Trong 87 hộ điều tra, có tới 85 hộ là người dân tộc thiểu số (chiếm 97,7%), bao gồm các dân tộc Mông, Tày, Pà Thẻn, Dao, La Chí, Mường. Đáng chú ý, 100% số hộ thuộc nhóm hộ nghèo và cận nghèo được khảo sát đều là đồng bào dân tộc thiểu số.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Vượng đã phản ánh toàn diện thực trạng nghèo đói tại xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang dưới lăng kính tiếp cận nghèo đa chiều theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg. Bằng phương pháp điều tra thực địa 87 hộ tại 3 thôn điển hình, nghiên cứu đã minh chứng rõ nét các rào cản thoát nghèo tại địa phương bắt nguồn từ địa hình chia cắt, thiếu hụt điện lưới, nước sạch, hạ tầng giao thông và gánh nặng phụ thuộc nhân khẩu ở đồng bào dân tộc thiểu số. Các kết quả khảo sát và hệ thống giải pháp đề xuất là cơ sở thực tiễn phục vụ việc xây dựng chính sách can thiệp giảm nghèo bền vững tại địa phương.