Đặt vấn đề Nghèo là vấn đề mà từ trước đến nay luôn được xã hội quan tâm, nó không chỉ mang tính chất quốc gia mà còn trên phạm vi toàn cầu. Bởi đói nghèo không những là lực cản lớn nhất tới sự phát triển, mà còn gây nên sự suy thoái về đạo đức tinh thần, làm gay gắt thêm những bất bình đẳng, gia tăng thêm các tệ nạn xã hội, làm suy kiệt kinh tế - chính trị, phương hại đến an ninh, là nguy cơ tụt hậu ngày càng trầm trọng đối với nhiều quốc gia trên toàn thế giới. Tại Việt Nam hiện nay còn không ít người dân sống ở mức nghèo khổ, nhất là khu vực miền núi vùng sâu vùng xa. Đặc biệt còn có những người sống trong hoàn cảnh rất khó khăn như thiếu ăn, trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Chính vì vậy công tác XĐGN phát triển kinh tế là một vấn đề cấp bách trong chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và nhà nước. Nhằm mục đích xóa dần khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Trong nhiều năm qua với những nỗ lực không ngừng, Việt Nam đã đạt được những kết quả khả quan trong xóa đói giảm nghèo. Có thể thấy rõ trong các kết quả điều tra đói nghèo trên toàn quốc của Bộ LĐTB & XH, năm 2013, cụ thể: theo tiêu chuẩn nghèo đói thì tỉ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm nhanh từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2009, 13,4% năm 2010, 12,3% năm 2011, 10% - 11% năm 2012, 11,76% năm 2013.
Qua đó ta có thể thấy Đảng, nhà nước và các tổ chức xã hội luôn quan tâm đến công cuộc XĐGN, Việt Nam sớm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về XĐGN. Trong tổng số những người nghèo của cả nước hiện nay, có tới 85% người nghèo tập trung ở nông thôn, 1/3 trong số đó tập trung tại khu vực miền núi. Do đó, để đảm bảo được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nước ta từ nay đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp, thì vấn đề xóa đói giảm nghèo cần được ưu tiên hàng đầu. Thực tế cho thấy, các chính sách về XĐGN của Đảng và nhà nước phần nào đã đem lại kết quả đáng kể.
Tuy nhiên, việc triển khai và thực hiện chính 2 sách XĐGN ở nhiều vùng miền còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ, nhiều cán bộ trong quá trình thực hiện còn bộc lộ hạn chế về năng lực, thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về công việc, đặc thù địa phương. Song Pe là một trong những xã khó khăn của huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, là xã nằm trong chương trình 135 và chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Xã có địa hình phức tạp, đất đai thuận lợi cho phát triển cây lâm nghiệp như Keo, Mỡ… trình độ dân trí thấp, kinh tế chậm phát triển. Các hoạt động sản xuất mang tính thuần nông, có rất ít các ngành nghề dịch vụ, do đó thu nhập của người dân thấp, đời sống rất khó khăn.
Tỷ lệ hộ nghèo của xã tương đối cao so với các xã lân cận. Mặc dù được sự hỗ trợ rất lớn của Đảng và nhà nước, nhưng tỷ lệ hộ nghèo của xã còn khá cao, hiện nay toàn xã có 32,57% hộ thuộc diện đói nghèo. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới đói nghèo cho người dân trong xã, như một số nguyên nhân: trình độ dân trí thấp nên chưa áp dụng hiệu quả khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hiệu quả công tác khuyến nông khuyến lâm chưa cao, người dân còn trông chờ ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước… Chính vì vậy công tác XĐGN tại xã vẫn là một yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi Đảng, nhà nước và các tổ chức chính quyền, đoàn thể địa phương tìm ra các giải pháp phù hợp nhất nhằm mục tiêu XĐGN phát triển kinh tế xã hội cho người dân địa phương. Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số giải pháp góp phần giảm nghèo cho người dân xã Song Pe - huyện Bắc Yên - tỉnh Sơn La”.
Qua nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ phần nào đánh giá đúng thực trạng nghèo của xã, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần giảm nghèo nâng cao đời sống cho người dân địa phương. Mục tiêu chung Quá trình nghiên cứu nhằm mục đích phân tích nguyên nhân nghèo ở địa phương, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giảm nghèo và đẩy nhanh quá trình phát triển chung cho toàn xã. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng nghèo và công tác giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu. - Phân tích được nguyên nhân nghèo và những tồn tại, hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm giảm nghèo và nâng cao hiệu quả của công tác XĐGN tại địa phương. Ý nghĩa của nghiên cứu 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học Quá trình thực hiện đề tài giúp tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, củng cố và phát huy những kiến thức đã được học trong nhà trường ra thực tiễn sản xuất. Đồng thời tích lũy, củng cố kỹ năng, phương pháp thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng tiếp cận và làm việc với cán bộ cũng như người dân.
Ý nghĩa thực tiễn sản xuất - Trên cơ sở điều tra thực trạng về giảm nghèo, nguyên nhân nghèo, những tồn tại, hạn chế trong công tác giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề tài đưa ra một số giải pháp giảm nghèo cụ thể nhằm cải thiện đời sống và nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, giúp các hộ nghèo thoát nghèo một cách bền vững. - Kết quả của đề tài là cơ sở tham khảo cho địa phương trong công cuộc giảm nghèo. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Một số khái niệm Hiện nay có nhiều khái niệm, quan điểm khác nhau về nghèo đói. Sự khác nhau đó đều xuất phát từ sự nhìn nhận dưới góc độ khía cạnh khác nhau, trong những điều kiện lịch sử cụ thể và hoàn cảnh khác nhau. Tuy nhiên, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Cụ thể một số khái niệm nghèo đói như sau: - Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Đinh Phi Hổ và cs, 2009).
- Theo DUKI (1997) “nghèo” là những người không có khả năng tiếp cận hoặc kiểm soát các nguồn lực xã hội, kinh tế, chính trị do đó không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người một cách có phẩm giá. - Một khái niệm khác được đưa ra tại báo cáo chung của các nhà tài trợ hội nghị tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12 năm 2003 như sau”Nghèo là tình trạng thiếu ở nhiều phương diện: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít được tham gia quá trình ra quyết định”. khái niệm cho thấy người nghèo không chỉ thiếu thốn về mặt vật chất mà còn thiếu thốn cả về mặt tinh thần, vị thế trong xã hội thấp. Quan điểm nghèo đói ở Việt Nam theo chương trình quốc gia XĐGN giai đoạn 2001 - 2005 và phương hướng giai đoạn 2006 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ (2000), nghèo được chia thành nhiều mức khác nhau, bao gồm : nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo có nhu cầu tối thiểu.
5 - Nghèo tương đối: Là tình trạng bộ phận dân cư có mức thu nhập dưới mức thu nhập của cộng đồng. - Nghèo tuyệt đối: Là bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu (ăn, mặc, ở, nhu cầu văn hóa, y tế, giáo dục và giao tiếp) để duy trì cuộc sống. - Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và đủ một số sinh hoạt hằng ngày nhưng ở mức tối thiểu. Các khái niệm trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: - Không được hưởng thụ những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người.
- Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư. - Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Các tiêu chuẩn để phân định đói nghèo Hiện nay, theo Chỉ thị số 1752/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tiêu chí hộ nghèo khu vực nông thôn được quy định: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 400 ngàn đồng/người/tháng trở xuống; khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ 500 ngàn đồng/người/tháng trở xuống. Đối với tiêu chí hộ cận nghèo được xác định như sau: khu vực nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng; khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.
Đây là những quy định mới nhất về chuẩn nghèo để tiến hành điều tra, lập danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo trên toàn quốc. Những hộ gia đình có hộ khẩu thường trú tại địa phương, nhưng không sống tại địa phương từ 6 tháng trở lên sẽ không được đưa vào điều tra; hộ gia đình di cư đến sống tại địa phương từ 6 tháng trở lên sẽ được đưa vào điều tra. Năm 2011, Bộ LĐ-TB & XH đưa ra ngưỡng nghèo mới làm căn cứ xác định mục tiêu XĐGN cho giai đoạn 2011- 2015. Theo đó ngưỡng nghèo và hộ cận nghèo được ấn định cho từng khu vực: - Khu vực nông thôn, miền núi hải đảo: có thu nhập bình quân/ người/tháng lớn hơn hoặc bằng 400.000đ là hộ nghèo.
- Khu vực thành thị, có thu nhập bình quân/người/tháng lớn hơn hoặc bằng 500.000đ là hộ nghèo 6 - Khu vực nông thôn, miền núi hải đảo: có thu nhập bình quân/người/tháng từ 401.