MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xã hội. Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển kinh tế xã hội. ngay cả những nƣớc phát triển cao cũng có tình trạng nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo ngày càng trở nên cách biệt.
Sau 25 năm đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt dƣợc những thành tựu lớn trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - an ninh - quốc phòng. Nền kinh tế nƣớc ta tăng trƣởng nhanh chóng, đời sống của một bộ phận ân cƣ dƣợc cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng, ảnh hƣởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội không đồng đều đến tát cả các vùng, các nhóm dân cƣ. vì vậy một số bộ phận dân cƣ do các nguyên nhân khác nhau chƣa bắt kịp với sự thay đổi, gặp những khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành ngƣời nghèo.
Xác định rõ tăng trƣởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội và môi trƣờng, để thực hiện thành công mục tiêu đƣa nƣớc ta thành một nƣớc công nghiệp vào năm 2020, Đảng và Nhà nƣớc ta cần làm là đƣa nƣớc ta thoát khỏi nƣớc nghèo và kém phát triển. vì vậy xóa đói giảm nghèo là một chủ chƣơng lớn, là nhiệm vụ quan trong trong việc phát triển kinh tế - xã hội. Việt Nam là mộtt nƣớc sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, có gần 70% dân số sống ở nông thôn sống bằng nghề nông nghiệp, tỉ lệ nghèo đói còn cao nhƣng không phân bố đều giữa các vùng, miền; nhƣng bất kì nơi nào từ thành phố đến nông thôn, đồng bằng miền núi, vùng sâu vùng xã vẫn còn tồn tại nghèo, ngƣời nghèo, xã nghèo. Chính vì vây trong quá trình xây dựng đổi mới Đảng và Nhà Nƣớc ta luôn đặt mực tiêu xóa đói giảm nghèo lên hàng hàng đầu, góp phần đem e 2 lại hiệu quả thiết thực cho ngƣời nghèo ổn định thu nhập, nâng cao chất lƣợng đời sống và tạo mọi điều kiện đáp ứng đày đủ mọi nhu cầu và nguyện vọng của ngƣời nghèo, để cho ngƣời nghèo có cơ hội và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội, phát triển sản xuất và tự vƣơn lên thoát nghèo nhằm hƣớng đến mục tiêu dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, cuộc sống ngƣời dân còn gặp nhiều khó khăn. Xã Đàm Thủy Huyện Trùng khánh phần đông dân số sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điều kiện sản xuất khó khăn nên ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống sản xuất của ngƣời dân.nhằm tăng cƣơng công tác xóa đói giảm nghèo và nâng cao đời sống của ngƣời dân trên địa bàn xã nên em đã chọn đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp xóa đói giảm nghèo trên địa bàn xã Đàm Thủy - huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá thƣ̣c tra ̣ng , tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hƣởng đế n nghèo của các hô ̣ nông dân và đƣa ra nhƣ̃ng giải pháp giảm nghèo cải thiện đời sống nhân dân trong xã.
Mục tiêu cụ thể - tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu. - Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng nghèo đói - Tìm hiểu những nguyên nhân dẫn tới nghèo trên địa b àn xã Đ àm Thủy, huyê ̣n Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng trong gia đoa ̣n2012-2014 - Tìm hiểu các chƣơng trình giảm nghèo đã và đang thực hiện tại địa phƣơng và nhƣ̃ng bài ho ̣c rút ra từ chƣơng trình này. e 3 - Đề xuấ t đƣơ ̣c các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực giúp các hộ gia đình nghèo tại địa phƣơng nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo và xây dƣ̣ng điạ phƣơng ngày càng phát triể n. Ý nghĩa khoa của khóa luận 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Nghiên cƣ́u đề tài là cơ hô ̣i để cho sinh viên thƣ̣c hành nhƣ̃ng kiế n thƣ́c đã ho ̣c, áp dụng kiến thức vào thực tế, giúp sinh viên nâng cao kiến thức và kinh nghiê ̣m thƣ̣c tế. - Nghiên cƣ́u đề tài giúp sinh viên v ận dụng nhiều kiến thức đã học để đƣa vào thƣ̣c tế , các thủ thuật về xác suất thống kê , kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin , các phƣơng pháp PRA , khả năng phân tích xử lý số liệu , khả năng nhâ ̣n đinh ̣ theo các nguyên lý phát triển nông thôn , sƣ̣ tổ ng hơ ̣p và đƣa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn… - Đề tài là nguồ n tài liê ̣u bổ xung cho công tác nghiên cƣ́u ho ̣c tâ ̣p của các bạn sinh viên khóa sau. Ý nghĩa trong thực tiễn Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà nƣớc nói chung cũng nhƣ của t oàn thể nhân dân xã Đàm Th ủy nói riêng. Nghiên cƣ́u đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phƣơng , tìm hiểu nhƣ̃ng nguyên n hân nghèo đói , hiê ̣u quả của các chính sách , chƣơng triǹ h xóa đói giảm nghèo và tác đô ̣ng của nhƣ̃ng chiń h sách này đế n đời số ng sản xuấ t và sinh hoa ̣t của ngƣời dân điạ phƣơng.
Kế t quả nghiên cƣ́u đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và các ban ngành đoàn thể của xã đƣa ra những biện pháp giảm nghèo và triển khai một cách hiệu quả hơn. e 4 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo 2. Một số khai niệm về nghèo Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia, hay từng vùng, từng nhóm dân cƣ, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chỉ tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời.
Sự khác nhau chung nhất là sự thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội cũng nhƣ phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia. Hội nghị chống nghèo đói ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ASCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993 đã đƣa ra khái niệm và định nghĩa về đói nghèo. Theo hội nghị “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế, xã hội và phong tục tập quán của các địa phương và những phong tục ấy đã được xã hội thừa nhận”. Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam trên nhiều phƣơng diện và tiêu thức khác nhau nhƣ thời gian, không gian, thế giới, môi trƣờng, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những đặc trƣng khác của nghèo đói.
Song quan niệm thống nhất cho rằng: e 5 “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định” (Nguyễn Hữu Hồng, 2008). Ở Việt Nam, Hai vấn đề đói và nghèo là khác nhau: Đói là tình trạng của một bộ phận dân cƣ nghèo, có mức sống dƣới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Sự nghèo khổ, sự bần cùng đƣợc biểu hiện là đói, là tình trạng con ngƣời không có cái ăn, ăn không đủ lƣợng dinh dƣỡng tối thiểu cần thiết để duy trì lƣợng dinh dƣỡng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức để lao động, để tái sản xuất sức lao động. Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cƣ chỉ có các điều kiện vật chất và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng.
Mức tối thiểu đƣợc hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và nhu cầu khác nhƣ: văn hóa, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp… Trong hoàn cảnh nghèo thì ngƣời nghèo và hộ nghèo cũng chỉ vật lộn với những mƣu sinh hàng ngày và kinh tế vật chất biểu hiện thực chất nhất là bữa ăn. Họ không thể vƣơn tới các nhu cầu về văn hóa, tinh thần hoặc nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu gần nhất, gần nhƣ không có. Điều này đặc biệt rõ ở vùng nông thôn với hiện tƣợng trẻ em bỏ học, thất học, các hộ nông dân nghèo không có khả năng hƣởng thụ văn hóa, chữa bệnh khi ốm đau, không đủ hoặc không thể mua sắm thêm quần áo cho nhu cầu mặc, sửa chữa nhà cửa cho nhu cầu ở. Ngân hàng Châu Á đƣa ra nghèo tuyệt đối và nghèo tƣơng đối nhƣ sau: Nghèo tuyệt đối là việc làm không thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống của con ngƣời.
Nghèo tương đối là tình trạng không đạt tới mức tối thiểu tại một thời điểm nào đó. Các quan điểm đánh giá đói nghèo Không có chuẩn nghèo nào chung cho tất cả các nƣớc, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng, từng quốc gia. Để phân tích nƣớc nghèo, nƣớc giàu, ngân hàng thế giới (WB) đã đƣa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng mức thu nhập bình quân đầu ngƣời trên năm để đánh giá thực trạng giàu - nghèo của các nƣớc ở cấp độ sau: Nƣớc cực giàu: Từ 20.000 USD/ngƣời/năm. Nƣớc khá giàu: Từ 10.000 USD/ngƣời/năm.
Nƣớc trung bình: Từ 2.000 USD/ngƣời/năm. Nƣớc cực nghèo: Dƣới 500 USD/ngƣời/năm. Ở Việt Nam, Bộ Lao động thƣơng binh và xã hội là cơ quan thƣờng trực trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo. Cơ quan này đã đƣa ra mức xác định khác nhau về nghèo đói tùy theo từng thời kì phát triển của đất nƣớc.