Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận chung về đói nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo * Quan niệm của quốc tế về nghèo Quan niệm về nghèo hay nhận dạng về đói nghèo của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định đói nghèo vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan (1993) [17], các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa phương”. Quan niệm về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện hộ nghèo. Trên thế giới hình thành 03 phương pháp tiếp cận chuẩn nghèo chủ yếu sau: phương pháp dựa vào nhu cầu chi tiêu; phương pháp dựa vào thu nhập thực tế; phương pháp dựa vào đánh giá của người dân. Trong 03 phương pháp trên thì 02 phương pháp đầu được các quốc gia sử dụng khá phổ biến.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Để xác định chuẩn nghèo có nhiều tiêu chí, chuẩn mực đánh giá khác nhau. Trên thế giới người ta lấy những chỉ tiêu: chất lượng cuộc sống, chỉ tiêu phát triển con người, chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng, chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người để làm các tiêu chí xác định chuẩn nghèo (Đỗ Thế Hanh (2000), Tr 20). Ngân hàng Thế giới WB sử dụng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người làm tiêu chí xác định chuẩn nghèo. Thu nhập bình quân theo đầu người là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh được quy mô, trình độ phát triển kinh tế và mức sống của người dân trong một nước.
Hiện nay, trên thế giới tồn tại 02 phương pháp tính toán thu nhập quốc dân bình quân theo đầu người chủ yếu của ngân hàng Thế giới WB đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD và phương pháp PPP (purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD. - Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: + Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000 USD/người/năm là khá giàu.000 USD/người/năm là nước trung bình.500 USD/người/năm là nước nghèo. + Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo. Theo phương pháp này, Việt Nam có thu nhập khoảng 1.200 USD (năm 2010) thuộc nhóm nước nghèo.
Tuy nhiên theo phương pháp này, việc chuyển đổi thường bị sai lệch, không phản ánh được tính ngang giá của sức mua. Do đó từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, Liên Hợp Quốc đã đề ra phương pháp tính bình quân thu nhập mỗi nước theo sức mua tương đương (PPP). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Phương pháp PPP: WB muốn tìm ra mức chuẩn nghèo đói chung cho toàn thế giới. Trên cơ sở điều tra thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình và giá cả hàng hoá, thực hiện phương pháp tính “rỗ hàng hoá” sức mua tương đương để tính được mức thu nhập dân cư giữa các quốc gia có thể so sánh.
Sau nhiều cuộc điều tra trên toàn cầu, WB đã đưa ra ngưỡng nghèo chung (theo PPP) (Đỗ Thế Hanh (2000). Đối với các nước có thu nhập thấp < 1USD/ 1 ngày, đối với các nước có thu nhập trung bình < 2 USD/ ngày. Tuy nhiên, theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội. Do đặc điểm của nền kinh tế - xã hội và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo đói theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia, do đó không thể lấy chuẩn nghèo đói của WB để xác định nghèo đói của Việt Nam.
Ở Việt Nam, trong những năm qua đã dựa trên 2 căn cứ để xác định chuẩn nghèo. Một là căn cứ vào chuẩn nghèo của cục thống kê và ngân hàng Thế giới. Hai là căn cứ vào chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao Động - Thương binh và xã hội công bố. Tổng Cục thống kê với vai trò thu thập, công bố và đánh giá số liệu cấp quốc gia và có thể so sánh quốc tế đã cùng Ngân hàng thế giới áp dụng phương pháp xác định chuẩn nghèo theo phương pháp đo lường mức sống của Ngân hàng thế giới đưa ra chuẩn nghèo đói của Việt Nam gồm 02 mức: mức nghèo lương thực, thực phẩm và mức nghèo chung.
Mức nghèo lương thực thực phẩm đây là chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người/ tháng. Còn mức nghèo chung Tổng cục thống kê dựa trên mức chi tiêu bình quân đầu người/ tháng làm căn cứ đánh giá chuẩn nghèo. Như vậy các chuẩn nghèo thay đổi theo thời gian tùy thuộc vào tình hình phát triển kinh tế của từng quốc gia theo từng giai đoạn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Bộ Lao động - Thương binh và xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kỳ. Lúc đầu chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang mức thu nhập (Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2012), Tr 3).
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo từng bước thoả mãn nhu cầu của con người (ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá…). Chuẩn nghèo đói được điều chỉnh gắn với tăng trưởng kinh tế, mức độ cải thiện điều kiện sống của người dân, tình hình thay đổi cơ cấu chi tiêu, thu nhập của người dân. Mặt khác theo phương pháp này, tạo điều kiện cho cơ sở có thể triển khai được việc lập danh sách hộ nghèo và xác định các hỗ trợ cần thiết. Tuy nhiên, phương pháp tiếp cận này có hạn chế là chưa tính toán đầy đủ nhu cầu tiêu dùng (chỉ chú ý một số nhu cầu lương thực, thực phẩm và một số nhu cầu phi lương thực, thực phẩm).
Độ tin cậy chưa cao do không có điều kiện điều tra diện rộng, thu nhập thông tin về thu nhập của người dân nông thôn và miền núi rất khó chính xác. Phương pháp xác định chuẩn nghèo Có hai phương pháp xác định chuẩn nghèo (Bộ LĐ-TB&XH, 2005): - Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào nhu cầu chi tiêu. Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân hàng thế giới khởi xướng và cũng là phương pháp được nhiều quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế công nhận và sử dụng trong việc xác định chuẩn nghèo ở cấp quốc gia hoặc sử dụng trong các dự án lớn. Nội dung cơ bản của phương pháp này là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người về ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội.
- Phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh với thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình. Phương pháp này rất khoa học và tương đối đơn giản, một số nước phát triển ở Châu Âu và Mỹ đã sử dụng, họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cho rằng người nghèo là những người có thu nhập không đủ để chi phí cho lương thực thực phẩm và các dịch vụ xã hội. Do vậy, người ta xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 50% thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình trong cả nước.Chuẩn nghèo tại Việt Nam Xác định nghèo là một công việc khó khăn vì nó gắn với từng thời điểm, từng quốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Ở nước ta, khi có chủ trương xóa đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra những chuẩn mực để xác định tình hình nghèo.
Từ năm 2015 trở về trước, Việt Nam chủ yếu xác định chuẩn nghèo theo chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm. Chỉ tiêu này được tính bằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánh giá. Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở, chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại. Các tiêu chí đánh giá nghèo khác như chỉ số phát triển con người (HDI), Chỉ số hành tinh hạnh phúc (HPI) cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong các công trình nghiên cứu kinh tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới.
Tại Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụ chủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèo cho từng giai đoạn cụ thể. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chuẩn nghèo tại Việt Nam được xác định qua các thời kỳ Giai đoạn Đơn vị tính Hộ nghèo 1.Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức Vùng nông thôn kg/gạo/người/tháng 15 Vùng thành thị kg/gạo/người/tháng 20 2.Giai đoạn 1995-1997 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg/gạo/người/tháng 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg/gạo/người/tháng 20 Vùng thành thị kg/gạo/người/tháng 25 3.Giai đoạn 1998-2000 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 55.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 70.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 90.Giai đoạn 2001-2005 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 150.Giai đoạn 2006-2010 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 200.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 260.Giai đoạn 2011-2015 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 400.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 500.Giai đoạn 2016-2020 Vùng nông thôn đồng/người/tháng 700.000 Vùng thành thị đồng/người/tháng 900.000 Nguồn: Bộ Lao động Thương binh và Xã hội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.