Tổng quan nghiên cứu
Giảm nghèo bền vững là một trong những mục tiêu thiên niên kỷ quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam. Trong giai đoạn 1990 - 2010, tỷ lệ nghèo chung của cả nước đã giảm ấn tượng từ gần 60% xuống còn 20,7%, giúp hơn 30 triệu người thoát nghèo và đưa tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2014 xuống còn khoảng 5,8% đến 6%. Tuy nhiên, khu vực miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn đang đối mặt với nguy cơ tái nghèo rất lớn. Điển hình tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, dù tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm mạnh từ 48,63% năm 2009 xuống còn 18,04% năm 2014, bức tranh đói nghèo tại khu vực vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể vẫn diễn biến hết sức phức tạp.
Nghiên cứu tập trung giải quyết mâu thuẫn cốt lõi giữa yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt hệ sinh thái rừng đặc dụng và nhu cầu phát triển sinh kế của cộng đồng dân cư bản địa. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác lập tại 3 xã vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể gồm Nam Mẫu, Khang Ninh và Quảng Khê với tổng diện tích tự nhiên 10.048 ha, nơi có trên 98% dân số là người dân tộc thiểu số. Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2012 - 2014 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa năm 2015. Mục tiêu của đề tài là đánh giá toàn diện thực trạng, làm rõ nguyên nhân gốc rễ dẫn đến đói nghèo, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ 526 hộ nghèo trên tổng số 2.197 hộ (chiếm 23,94%), trong đó người dân tộc thiểu số chiếm tới 99,34% tổng số hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Đề tài vận dụng lý thuyết phát triển bền vững khởi xướng bởi Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987) và Tuyên bố Hội nghị Thượng đỉnh Rio+20 (năm 2012), khẳng định phát triển bền vững phải kết hợp hài hòa ba trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Luận văn tiếp cận khung lý thuyết sinh kế bền vững với 5 nguồn vốn cơ bản gồm: vốn con người, vốn tự nhiên (đất đai), vốn vật chất, vốn tài chính và vốn thể chế xã hội.
Hệ thống khái niệm chuyên ngành được chuẩn hóa bao gồm: chuẩn nghèo theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống tại khu vực nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng tại khu vực thành thị; nghèo kinh niên; tái nghèo; và giảm nghèo bền vững. Giảm nghèo bền vững được định nghĩa là quá trình nâng cao năng lực nội tại của hộ gia đình, giúp gia tăng thu nhập ổn định và có khả năng chống chịu trước các cú sốc kinh tế, thiên tai mà không gây suy thoái tài nguyên rừng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2014 từ Chi cục Thống kê huyện Ba Bể, Ban quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể và UBND các xã. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu 150 hộ gia đình dân tộc thiểu số tại 3 xã vùng lõi trong năm 2015. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng dựa trên tiêu chí phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ đã thoát nghèo nhằm đảm bảo tính đại diện cao.
Các phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm, phân tích ma trận tương quan và tổng hợp định tính. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bóc tách định lượng sự thay đổi thu nhập và cơ cấu nguồn lực, đồng thời lý giải sâu sắc các yếu tố tập quán văn hóa, rào cản nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số trong điều kiện địa hình vùng núi cao bị chia cắt.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tỷ lệ nghèo đói tại vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể cao vượt trội so với mặt bằng chung toàn huyện. Năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo tại 3 xã vùng lõi là 23,94% (526 hộ), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 99,34% (522 hộ), cao hơn đáng kể so với mức bình quân 18,04% của toàn huyện Ba Bể. Tỷ lệ tái nghèo hàng năm vẫn dao động từ 7% đến 10% tổng số hộ đã thoát nghèo.
Thứ hai, thiếu hụt tư liệu sản xuất và vốn là nguyên nhân vật chất trực tiếp. Hơn 65% hộ nghèo được khảo sát thiếu đất canh tác lúa nước màu mỡ do địa hình có độ dốc trên 25 độ, đất canh tác nương rẫy bạc màu và thường xuyên chịu khô hạn. Trên 70% hộ nghèo thiếu vốn đầu tư mở rộng chăn nuôi và gặp khó khăn trong việc tiếp cận các gói tín dụng thương mại.
Thứ ba, hạn chế về vốn con người và tư tưởng ỷ lại kìm hãm động lực vươn lên. Có tới hơn 50% chủ hộ nghèo chưa tốt nghiệp trung học cơ sở, hạn chế về trình độ tiếng phổ thông và kỹ năng áp dụng khoa học kỹ thuật. Một bộ phận người dân vẫn còn tâm lý trông chờ vào trợ cấp cứu đói của Nhà nước, chưa chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh dài hạn.
Thảo luận kết quả
Thực trạng đói nghèo dai dẳng tại vùng lõi bắt nguồn từ xung đột gay gắt giữa quy chế quản lý rừng đặc dụng nghiêm ngặt trên diện tích 10.048 ha và tập quán canh tác truyền thống nương rẫy, khai thác lâm sản phụ. Khi các nguồn thu từ rừng bị kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, người dân chưa kịp chuyển đổi sang các mô hình sinh kế thay thế phù hợp.
So sánh với bài học thành công tại huyện Chiêm Hóa (tỉnh Tuyên Quang) với mức giảm nghèo bình quân trên 6%/năm hay huyện Vị Xuyên (tỉnh Hà Giang) giảm tỷ lệ nghèo xuống còn 19% năm 2014 nhờ gắn đào tạo nghề với chuỗi liên kết tiêu thụ chè và thảo quả, công tác giảm nghèo tại Ba Bể còn mang tính cào bằng, thiếu liên kết thị trường.
Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô hình hóa hiệu quả qua biểu đồ cột kép thể hiện biến động tỷ lệ hộ nghèo 3 xã giai đoạn 2012 - 2014, kết hợp biểu đồ tròn phân tích cơ cấu nguyên nhân nghèo đói (thiếu đất sản xuất 35%, thiếu vốn 30%, thiếu kiến thức kỹ thuật 20%, các yếu tố rủi ro xã hội và bệnh tật 15%) để hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách dễ dàng theo dõi.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, quy hoạch và phát triển mô hình sinh kế sinh thái gắn với dịch vụ du lịch cộng đồng tại hồ Ba Bể. Ban Quản lý Vườn Quốc gia phối hợp với UBND huyện Ba Bể giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 100% hộ nghèo bản địa, đồng thời hướng dẫn phát triển mô hình nhà nghỉ cộng đồng (homestay), phấn đấu nâng thu nhập bình quân của người dân lên trên 1.500.000 đồng/người/tháng trong giai đoạn 2016 - 2020.
Thứ hai, đổi mới cơ chế tín dụng ưu đãi và chuyển giao kỹ thuật khuyến nông. Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Ba Bể cần đơn giản hóa thủ tục giải ngân, nâng mức cho vay không cần thế chấp và duy trì lãi suất ưu đãi dưới 0,5%/tháng. Trạm Khuyến nông huyện tăng cường tập huấn cầm tay chỉ việc, chuyển giao kỹ thuật thâm canh lúa năng suất cao và kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh cho gia súc.
Thứ ba, tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi đặc sản theo chuỗi giá trị. UBND 3 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê tập trung chuyển đổi 15% đến 20% diện tích đất nương rẫy kém hiệu quả sang trồng dong riềng, chè hoa vàng và phát triển đàn bò vỗ béo, liên kết với các doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm nông nghiệp sạch.
Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xóa bỏ tư tưởng ỷ lại. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện tổ chức tối thiểu 10 lớp đào tạo nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp mỗi năm cho trên 300 lao động dân tộc thiểu số, gắn công tác tuyên truyền thay đổi nếp nghĩ với việc biểu dương kịp thời các gương hộ gia đình tự nguyện viết đơn xin thoát nghèo.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo, chuyên viên quản lý nhà nước tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh Bắc Kạn và UBND huyện Ba Bể. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để điều chỉnh chính sách an sinh, tối ưu hóa nguồn lực từ Chương trình 135 và Nghị quyết 30a của Chính phủ.
Thứ hai, Ban Quản lý Vườn Quốc gia Ba Bể và các khu bảo tồn thiên nhiên trên toàn quốc. Đề tài đem lại phương pháp luận xử lý bài toán dung hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và tạo sinh kế bền vững cho hơn 10.000 nhân khẩu vùng đệm và vùng lõi rừng đặc dụng.
Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn và Quản lý Kinh tế. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị về phương pháp điều tra kinh tế hộ và phân tích các chỉ tiêu nghèo đa chiều vùng cao.
Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức tài trợ quốc tế hoạt động trong lĩnh vực phát triển cộng đồng. Dữ liệu khảo sát chi tiết từ 150 hộ dân tộc thiểu số là cơ sở quan trọng để thiết kế các dự án tài chính vi mô và nâng cao năng lực thích ứng sinh kế.
Câu hỏi thường gặp
Chuẩn nghèo được áp dụng làm căn cứ đánh giá trong luận văn là gì?
Luận văn căn cứ theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, xác định hộ nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống, hộ cận nghèo có thu nhập từ 401.000 đến 520.000 đồng/người/tháng.
Tại sao tỷ lệ hộ nghèo tại 3 xã vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể lại cao tới 23,94%?
Tỷ lệ hộ nghèo tại 3 xã vùng lõi cao gấp 1,3 lần bình quân toàn huyện do 98% dân cư là đồng bào thiểu số sinh sống biệt lập, địa hình dốc hiểm trở, thiếu đất canh tác màu mỡ và bị giới hạn quyền khai thác tài nguyên rừng bởi quy chế bảo tồn đặc dụng nghiêm ngặt.
Rào cản lớn nhất đối với việc thoát nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số tại đây là gì?
Rào cản lớn nhất là sự kết hợp giữa thiếu hụt vốn sản xuất (trên 70% hộ thiếu vốn), trình độ văn hóa hạn chế dẫn đến khó tiếp thu khoa học kỹ thuật và tâm lý trông chờ, ỷ lại vào chính sách trợ cấp xã hội của một bộ phận người dân.
Bài học kinh nghiệm từ tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang có thể áp dụng ra sao tại Ba Bể?
Huyện Ba Bể có thể học tập mô hình đào tạo nghề gắn với phát triển cây đặc sản của huyện Vị Xuyên và cơ chế phân bổ ngân sách minh bạch, phong trào tự nguyện thoát nghèo của huyện Chiêm Hóa nhằm giảm tỷ lệ nghèo trên 5% mỗi năm.
Giải pháp nào giữ vai trò đột phá để giảm nghèo bền vững tại Vườn Quốc gia Ba Bể?
Giải pháp đột phá là kết hợp giao khoán bảo vệ 10.048 ha rừng đặc dụng với phát triển du lịch sinh thái cộng đồng và chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang đặc sản bản địa có liên kết tiêu thụ, giúp người dân nâng mức sống từ chính cảnh quan thiên nhiên.
Kết luận
- Thực trạng đói nghèo tại vùng lõi Vườn Quốc gia Ba Bể vẫn ở mức cao với 23,94% hộ nghèo năm 2014, trong đó người dân tộc thiểu số chiếm 99,34%, đòi hỏi phải có cơ chế chính sách đặc thù.
- Đề tài đóng góp vào hệ thống lý luận về kinh tế nông nghiệp thông qua việc làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển sinh kế hộ gia đình và bảo tồn hệ sinh thái rừng đặc dụng.
- Nghiên cứu đã cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực địa tin cậy từ 150 hộ điều tra tại 3 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê, phản ánh chính xác các rào cản về vốn, đất đai và nhân lực.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ và khả thi cao, gắn kết chặt chẽ giữa chính sách tín dụng ưu đãi, khuyến nông thực hành và du lịch cộng đồng sinh thái.
- Lộ trình giai đoạn 2016 - 2020 cần ưu tiên huy động các nguồn lực tài chính công và xã hội hóa nhằm kéo giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15%, ngăn chặn triệt để nguy cơ tái nghèo.
Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển cộng đồng quan tâm có thể khai thác trực tiếp các phân tích chuyên sâu và hệ thống giải pháp của luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác an sinh xã hội thực tiễn.