Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ CHI PHÍ CỦA CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Chuỗi cung ứng Hiện nay, có nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau như theo cách tiếp cận dựa trên các thành phần cơ bản trong cấu trúc của chuỗi cung ứng, các mối quan hệ trong chuỗi cung ứng hay các dòng chảy trong chuỗi cung ứng. Dưới đây là một vài định nghĩa về chuỗi cung ứng: Theo Christopher (1998), chuỗi cung ứng là mạng lưới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng. Chopra và Meindl (2001) cho rằng chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng.
Hay chuỗi cung ứng được hiểu một cách đơn giản là sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình kinh doanh. Theo Hội đồng tổ chức chuỗi cung ứng (2010), chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Như vậy, theo các định nghĩa đã trích dẫn, về cơ bản chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các công ty thông qua 3 hoạt động cơ bản từ cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến sản xuất và phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng; 2 - Cung ứng nguyên vật liệu: tập trung vào các hoạt động mua nguyên vật liệu như thế nào, từ đâu và khi nào nguyên liệu được cung cấp cho quá trình sản xuất một cách hiệu quả nhất. - Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng - Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ được phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối, kho bãi một cách kịp thời, hiệu quả.
Ngoài ra, trong một chuỗi cung ứng còn có sự luân chuyển của 3 dòng chảy chính đó là: dòng chảy hàng hóa, dòng chảy thông tin và dòng chảy tài chính. Một chuỗi cung ứng hoạt động tốt khi 3 dòng chảy trên vận hành một cách xuyên suốt, không bị gián đoạn. - Dòng hàng hóa: là luồng nguyên vật liệu từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất, và luồng sản phẩm dịch vụ từ nhà sản xuất tới khách hàng. Một khi dòng hàng hóa vận chuyển trong một chuỗi một cách liên tục, không bị gián đoạn), khi đó, doanh nghiệp sẽ cắt giảm được chi phí tồn kho.
Tùy đặc điểm mỗi loại hàng hóa, mỗi thị trường mà doanh nghiệp sẽ để mức tồn kho phù hợp, sao cho luồng hàng hóa vận chuyển liên tục nhất có thể, cắt giảm được chi phí, tăng lợi nhuận cho toàn bộ chuỗi. - Dòng thông tin: là dòng thông tin trao đổi giữa các mắc xích trong chuỗi, những phản hồi từ khách hàng và các đơn vị trong chuỗi. Dòng thông tin trong chuỗi có vai trò quan trọng vì đây là nền tảng để đưa ra quyết định liên quan đến kế hoạch sản xuất, kết nối tất cả các hoạt động trong chuỗi cung ứng. Khi thông tin chính xác, kịp thời và đầy đủ thì các mắc xích trong chuỗi sẽ có những quyết định chuẩn xác.
Thông tin từ cung cầu sản phẩm, phản hồi từ khách hàng, dự báo thị trường và kế hoạch sản xuất được các thành phần trong chuỗi chia sẽ với nhau càng nhiều thì chuỗi sẽ đáp ứng càng nhanh và càng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng tốt hơn. - Dòng tài chính: đi ngược với dòng hàng hóa từ nhà cung cấp tới khách hàng là dòng tài chính. Đó là luồng tài chính từ người mua đến người bán hoặc dòng tài chính mà các thành phần trong chuỗi hỗ trợ, chia sẽ cho nhau. Dòng tài chính lưu thông càng nhanh thì hiệu quả của chuỗi cung ứng càng tăng, giảm thiểu chi phí do bị gián đoạn dòng lưu chuyển tiền tệ.
3 Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng chuỗi cung ứng là chuỗi thông tin và các quá trình kinh doanh cung cấp một sản phẩm hay dịch vụ cho khách hàng từ khâu mua nguyên liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng (Hồ Tiến Dũng, 2009).2 Quản trị chuỗi cung ứng Để các hoạt động trong chuỗi diễn ra một cách nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản trị chuỗi cung ứng rất cần thiết trong bất kỳ công đoạn nào của chuỗi. “Quản trị chuỗi cung ứng là hoạch định, thiết kế và kiểm soát luồng thông tin và nguyên liệu theo chuỗi cung ứng nhằm đạt được các yêu cầu của khách hàng một cách có hiệu quả ở thời điểm hiện tại và tương lai” (Hồ Tiến Dũng, 2009, trang 382). Theo Mentzer và cộng sự (2001), quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống, sự hợp tác mang tính chiến lược của các chức năng kinh doanh truyền thống và các sách lược kết hợp trong các chức năng kinh doanh trong phạm vi một doanh nghiệp cụ thể, xuyên suốt hoạt động kinh doanh trong phạm vi chuỗi cung ứng nhằm cải thiện việc thực hiện mang tính dài hạn của các doanh nghiệp nói riêng và của toàn bộ chuỗi cung ứng nói chung. Theo Jerry (2004), quản trị chuỗi cung ứng đồng nghĩa với việc quản lý mọi hoạt động của chuỗi cung ứng.
Theo Christopher (2005), quản lý chuỗi cung ứng là quản lý các mối quan hệ nhiều chiều giữa các nhà cung cấp và khách hàng nhằm phân phối đến khách hàng giá trị cao hơn với chi phí ít hơn trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Nhìn chung, có thể hiểu khái quát về quản trị chuỗi cung ứng là tập trung quản lý các mối quan hệ giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng dựa trên 3 dòng chảy luân chuyển trong chuỗi là dòng hàng hóa, dòng thông tin và dòng tài chính.2 Mô hình của chuỗi cung ứng Trong hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bất kỳ luôn bao gồm 3 thành phần cơ bản trong mối quan hệ qua lại đó là nhà cung cấp, nhà sản xuất và nhà phân phối/nhà bán lẻ/khách hàng. 4 Các chuỗi cung ứng mở rộng còn bao gồm thêm 3 loại thành viên. Trước hết là nhà cung ứng của nhà cung ứng hay nhà cung ứng cuối cùng tại điểm đầu của chuỗi cung ứng mở rộng.
Sau đó là khách hàng của khách hàng hay khách hàng cuối cùng tại điểm cuối của chuỗi cung ứng mở rộng. Cuối cùng là toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng. Đây là những công ty cung cấp dịch vụ hậu cần như các công ty vận tải đường hàng không và đường bộ, các nhà cung cấp hệ thống thông tin, các công ty kinh doanh kho bãi, các hãng môi giới vận tải, các đại lý, các nhà tư vấn tài chính, tiếp thị. Như vậy, chuỗi cung ứng đơn giản sẽ có ít thực thể tham gia, trong khi với các chuỗi phức tạp số các thực thể tham gia sẽ lớn.
Khi các doanh nghiệp riêng lẻ trong chuỗi cung ứng ra các quyết định kinh doanh mà không quan tâm đến các thành viên khác trong chuỗi sẽ dẫn đến giá bán cho khách hàng cuối cùng rất cao, mức phục vụ của chuỗi cung ứng thấp và nhu cầu khách hàng tiêu dùng cuối cùng có thể giảm. Các Các Các Các Khách nhà nhà nhà nhà hàng cung máy kho bán lẻ cấp Hình 1.1: Mô hình chuỗi cung ứng điển hình (Nguồn: Hồ Tiến Dũng, 2009, trang 381) Nhìn chung, một chuỗi cung ứng bất kỳ sẽ có 3 thực thể chính là nhà cung cấp, công ty sản xuất và phân phối và khách hàng. Vì vậy, chúng ta có thể đơn giản hóa chuỗi cung ứng bằng mô hình chuỗi cung ứng đơn giản. Nhà cung cấp Công ty Khách hàng Hình 1.2: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản (Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008, trang 30) 5 Từ mô hình chuỗi cung ứng đơn giản, chúng ta có thể phát triển chuỗi cung ứng mở rộng với nhiều thực thể tham gia vào hoạt động của chuỗi và có mối quan hệ tương tác lẫn nhau.
Khi đó, sẽ xuất hiện quy trình mua đi bán lại giữa các nhà cung cấp (từ nhà cung cấp cuối cùng đến nhà cung cấp trung gian); đặc biệt là có sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ như hậu cần, tài chính, nghiên cứu thị trường, công nghệ thông tin, thiết kế sản phẩm… Nhà cung cấp Nhà cung Khách Khách hàng cuối cùng cấp Công ty hàng cuối cùng Nhà cung cấp dịch vụ Hình 1.3: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng (Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008, trang 30) 1.3 Các yếu tố dẫn dắt kết quả của chuỗi cung ứng 1. HÀNG TỒN KHO Sản xuất gì? Bằng cách Sản xuất ra bao nhiêu? nào? Khi nào Trữ kho bao nhiêu? 5. THÔNG TIN Nền tảng để đưa ra các quyết định 4. VỊ TRÍ Chuyên chở sản phẩm bằng Nơi nào tốt nhất cho cách nào? Khi nào? hoạt động nào? TÍNH ĐÁP ỨNG NHANH VÀ TÍNH HIỆU QUẢ Hình 1.4: 5 yếu tố dẫn dắt chủ yếu của một chuỗi cung ứng (Nguồn: Nguyễn Công Bình, 2008, trang 35) 6 Theo Nguyễn Công Bình (2008), có năm lĩnh vực mà các quyết định của công ty sẽ xác định năng lực chuỗi cung ứng của họ là sản xuất, hàng tồn kho, vị trí, vận chuyển và thông tin.
Chopra và Meindl định nghĩa các lĩnh vực này là các yếu tố dẫn dắt kết quả có thể quản lý để tạo ra năng lực cần thiết cho một chuỗi cung ứng có sẵn Quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả trước hết đòi hỏi một sự hiểu biết từng yếu tố dẫn dắt và cách nó vận hành. Mỗi yếu tố dẫn dắt có khả năng tác động trực tiếp đến chuỗi cung ứng và củng cố một số năng lực nhất định. - Sản xuất: là nói đến năng lực của chuỗi cung ứng để sản xuất và tồn trữ sản phẩm. Các phương tiện sản xuất là nhà máy và kho.
Các nhà máy và nhà kho cần được thiết kế, xây dựng thích hợp để đạt được mức chi phí tối thiểu nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, mang lại hiệu quả kinh tế (Nguyễn Công Bình, 2008, trang 14). - Hàng tồn kho: là tổng hợp tất cả các nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt hoặc tương lai.