Luận văn Thạc sĩ Quản lý Kinh tế: Giải pháp giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu - Nguyễn Thị Ngọc Hân

Giải pháp toàn diện nhằm giải quyết vấn đề việc làm tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Phân tích các giải pháp thực tiễn như thu hút đầu tư, đào tạo nghề và hỗ

Trường đại học

Trường Đại học Bình Dương

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

156
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giải pháp giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu

Huyện Hòa Bình nằm ở vị trí trung tâm của tỉnh Bạc Liêu, gồm 07 xã và 01 thị trấn với diện tích tự nhiên 426 km². Dân số huyện đạt gần 112.000 người, trong đó lực lượng lao động chiếm tỷ lệ đáng kể. Địa phương sở hữu nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, nông nghiệp và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, thực trạng giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình vẫn đối mặt nhiều thách thức lớn. Nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế rất bức xúc nhưng nguồn lực địa phương hạn chế. Việc thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn do hạ tầng chưa đồng bộ. Các tiềm năng lợi thế chưa được khai thác hiệu quả, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Bài viết phân tích toàn diện thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp khả thi nhằm giải quyết vấn đề việc làm bền vững trên địa bàn huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

1.1. Vị trí địa lý và tiềm năng kinh tế huyện Hòa Bình

Huyện Hòa Bình tọa lạc tại vị trí trung tâm tỉnh Bạc Liêu, tiếp giáp các huyện và thành phố trong tỉnh. Địa phương có đường bờ biển dài, thuận lợi phát triển kinh tế biển và nuôi trồng thủy sản. Nông nghiệp là ngành chủ lực với diện tích đất canh tác lớn, chuyên trồng lúa và các loại cây công nghiệp. Du lịch sinh thái, du lịch tín ngưỡng tâm linh cũng là lĩnh vực tiềm năng. Công nghiệp chế biến nông, thủy sản có điều kiện phát triển mạnh. Những lợi thế này tạo nền tảng quan trọng cho chiến lược giải quyết việc làm tại địa phương.

1.2. Thực trạng lao động và việc làm trên địa bàn huyện

Lực lượng lao động trong độ tuổi tại huyện Hòa Bình chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số. Phần lớn lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, năng suất lao động còn thấp. Tình trạng lao động thiếu việc làm, việc làm không ổn định diễn ra phổ biến. Thu nhập bình quân đầu người đạt mức trung bình, chưa đáp ứng nhu cầu đời sống. Nhiều lao động trẻ di cư đi các tỉnh thành khác tìm kiếm cơ hội việc làm. Điều này gây ra sự thiếu hụt nguồn nhân lực cục bộ và ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội địa phương.

II. Phân tích thực trạng và thách thức giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình

Thực trạng giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình đối mặt nhiều thách thức phức tạp. Cơ cấu kinh tế huyện vẫn nghiêng về nông nghiệp truyền thống, khả năng tạo việc làm mới hạn chế. Công tác đào tạo nghề chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thị trường lao động. Người lao động thiếu kỹ năng chuyên môn, khó tiếp cận các vị trí việc làm chất lượng cao. Hệ thống thông tin thị trường lao động chưa phát triển đầy đủ. Chính sách hỗ trợ vay vốn, chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân triển khai chậm. Hạ tầng giao thông, khu công nghiệp chưa thu hút được nhà đầu tư lớn. Nguồn lực tài chính địa phương hạn chế, khó đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển. Mâu thuẫn giữa cung và cầu lao động ngày càng gia tăng. Tình trạng thiếu việc làm kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tệ nạn và bất ổn.

2.1. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng thiếu việc làm

Nguyên nhân thiếu việc làm tại huyện Hòa Bình xuất phát từ nhiều yếu tố nội tại. Thứ nhất, cơ cấu kinh tế chuyển đổi chậm, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhưng giá trị gia tăng thấp. Thứ hai, trình độ học vấn và tay nghề người lao động chưa đáp ứng yêu cầu tuyển dụng. Thứ ba, hạ tầng khu công nghiệp và cụm công nghiệp chưa hoàn thiện, hạn chế thu hút đầu tư. Thứ tư, chính sách hỗ trợ phát triển làng nghề, ngành nghề nông thôn chưa hiệu quả. Thứ năm, mối liên kết giữa đào tạo và sử dụng lao động còn lỏng lẻo.

2.2. Tác động xã hội từ vấn đề thất nghiệp và thiếu việc làm

Thiếu việc làm tạo ra hệ lụy sâu rộng đến đời sống xã hội huyện Hòa Bình. Thu nhập giảm sút khiến đời sống hộ gia đình gặp nhiều khó khăn. Khoảng cách giàu nghèo gia tăng, tiềm ẩn mâu thuẫn trong cộng đồng. Người lao động mất tự tin, xa lánh xã hội khi không tìm được việc làm ổn định. Tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng ở vùng thiếu việc làm kéo dài. Nạn di cư ồ ạt gây mất cân đối nguồn nhân lực địa phương. Tình hình an ninh trật tự bị ảnh hưởng tiêu cực. Phát triển nhân cách con người bị cản trở khi thiếu cơ hội lao động và cống hiến.

III. Các giải pháp cụ thể giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình tỉnh Bạc Liêu

Giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ, toàn diện. Trước hết, cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, khai thác lợi thế sản phẩm địa phương. Đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu thực tế thị trường lao động. Khuyến khích khởi nghiệp, hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho lao động nông thôn. Thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, cụm công nghiệp chế biến nông thủy sản. Phát triển du lịch sinh thái, du lịch tâm linh tạo thêm việc làm. Tăng cường hợp tác liên kết vùng trong giải quyết việc làm. Ứng dụng mô hình mỗi làng một sản phẩm theo kinh nghiệm Nhật Bản. Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động kết nối cung cầu hiệu quả. Các giải pháp cần triển khai đồng bộ, có lộ trình rõ ràng và nguồn lực phù hợp.

3.1. Phát triển kinh tế nông nghiệp và ngành nghề nông thôn

Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hàng hóa tập trung là giải pháp then chốt. Phát triển nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp. Khôi phục và phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống. Áp dụng mô hình mỗi xã một sản phẩm đặc trưng, khai thác lợi thế cạnh tranh địa phương. Khuyến khích hình thành hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới, liên kết chuỗi giá trị. Đào tạo kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến cho nông dân. Hỗ trợ xây dựng thương hiệu nông sản Hòa Bình trên thị trường.

3.2. Đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực chất lượng

Đào tạo nghề phải gắn liền với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và thị trường. Mở rộng các lớp dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn. Tập trung đào tạo kỹ năng chế biến nông thủy sản, du lịch dịch vụ. Hợp tác với doanh nghiệp đặt hàng đào tạo, giải quyết việc làm sau tốt nghiệp. Đưa chương trình hướng nghiệp vào trường phổ thông từ sớm. Hỗ trợ lao động nâng cao trình độ ngoại ngữ, tin học. Xây dựng trung tâm tư vấn giới thiệu việc làm hoạt động hiệu quả tại huyện.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn giải pháp giải quyết việc làm huyện Hòa Bình

Giải quyết việc làm tại huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là nhiệm vụ cấp thiết đòi hỏi sự nỗ lực từ nhiều phía. Bài viết đã hệ thống hóa thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp toàn diện. Chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề nông thôn là nền tảng quan trọng. Đào tạo nghề gắn với thị trường giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thu hút đầu tư và phát triển du lịch tạo thêm nhiều vị trí việc làm mới. Bài học từ Nhật Bản về mô hình mỗi làng một sản phẩm có tính ứng dụng cao. Thành công của các giải pháp phụ thuộc vào sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và người lao động. Nguồn lực đầu tư cần được huy động từ nhiều kênh khác nhau. Kết quả đạt được sẽ góp phần ổn định đời sống, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội địa phương.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ mô hình phát triển của Nhật Bản

Nhật Bản đã thành công với phong trào mỗi thôn làng làm một sản phẩm từ thập niên 1970. Tỉnh Oita khai thác ngành nghề cổ truyền nông thôn, năm đầu tạo ra 143 loại sản phẩm thu 250 triệu USD. Mô hình xí nghiệp tư nhân gia công chi tiết máy đơn giản giải quyết việc làm hàng triệu lao động. Người lao động không cần trình độ kỹ thuật cao, chỉ cần đào tạo ngắn hạn. Kinh nghiệm này có thể áp dụng tại huyện Hòa Bình thông qua phát triển ngành nghề truyền thống. Chính sách chuyển đổi cơ cấu ngành ở nông thôn thúc đẩy dịch vụ thương mại và chế biến nông sản.

4.2. Lộ trình triển khai và kỳ vọng hiệu quả tại địa phương

Lộ trình triển khai giải pháp cần chia thành ba giai đoạn cụ thể. Giai đoạn ngắn hạn tập trung đào tạo nghề và hỗ trợ vay vốn cho lao động. Giai đoạn trung hạn phát triển ngành nghề nông thôn, thu hút đầu tư chế biến. Giai đoạn dài hạn chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xây dựng thương hiệu du lịch. Mỗi giai đoạn cần đánh giá hiệu quả và điều chỉnh kịp thời. Kỳ vọng giảm tỷ lệ thiếu việc làm, tăng thu nhập bình quân đầu người. Mục tiêu cuối cùng là phát triển bền vững, nâng cao đời sống nhân dân huyện Hòa Bình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Giải pháp giải quyết việc làm tại huyện hòa bình tỉnh bạc liêu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu. Chƣơng 1: Những vấn đề chung về giải quyết việc làm. Chƣơng 2: Thực trạng việc giải quyết việc làm cho ngƣơi lao động trên địa bàn huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2016 – 2018. Chƣơng 3: Một số giải pháp giải quyết việc làm cho ngƣời lao động trên địa bàn huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu.

Kết luận và nêu kiến nghị, đề xuất. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Việc làm Dân số đông tạo nguồn lao động dồi dào biểu hiện của một tiềm năng phong phú, có thể huy động vào việc thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển.

Nhƣng mặt khác, nguồn lao động đông đảo có thể gây nên tình trạng cản trở cho sự phát triển kinh tế. Khi nguồn lao động đƣợc huy động, sử dụng hiệu quả thì tình trạng thiếu việc làm sẽ xảy ra, dẫn đến thu nhập ngƣời lao động thấp, giảm mức sống con ngƣời. Đồng thời đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội, thậm chí tạo ra các xung đột gây rối loạn về mặt an ninh chính trị. Chính vì vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống, xoá đói giảm nghèo trở nên có ý nghĩa to lớn, đƣợc quan tâm trong các mô hình phát triển hiện nay ở mọi quốc gia, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển.

Để giải quyết vấn đề này cần phải hiểu rõ về vấn đề việc làm. Tuỳ theo cách tiếp cận mà ngƣời ta có những định nghĩa khác nhau về việc làm. Việt Nam Bộ luật Lao động ban hành năm 1994 đã xác định: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”. Với khái niệm về việc làm nhƣ vậy thì hoạt động đƣợc xác định là việc làm bao gồm: Làm các công việc đƣợc trả công dƣới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.

Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc tạo ra thu nhập cho gia đình mình nhƣng không đƣợc trả công bằng tiền hoặc hiện vật cho công việc đó. Nhƣ vậy để có việc làm, không nhất thiết chỉ vào cơ quan xí nghiệp Nhà nƣớc mà có thể tìm việc làm trong mọi tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc do chính bản thân từng ngƣời lao động tạo ra để có thu nhập. Khái niệm việc làm có liên quan chặt chẽ với khái niệm lao động nhƣng không hoàn toàn giống nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con ngƣời với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời việc làm là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động và cũng 9 là nội dung chính trong hoạt động con ngƣời.

Trên giác độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tƣơng quan giữa sức lao động với tƣ liệu sản xuất, giữa yếu tố con ngƣời với yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất. Gắn với khái niệm việc làm là khái niệm thất nghiệp. Trong bất kỳ nền kinh tế nào dù có sử dụng lao động đến mức tốt nhất thì xã hội vẫn tồn tại thất nghiệp. Thất nghiệp là hiện tƣợng mà ngƣời lao động trong độ tuổi lao động có khả năng lao động muốn làm việc nhƣng lại chƣa có việc làm và đang tích cực tìm việc (công nhân viên trong các cơ quan xí nghiệp Nhà nƣớc bị dôi dƣ ra trong quá trình sắp xếp sản xuất chƣa có việc làm nhƣng hiện đang đi tìm việc, học sinh tốt nghiệp các trƣờng chuyên nghiệp và học nghề trong nƣớc, ngƣời đi học tập, làm việc ở nƣớc ngoài về đang tìm việc làm, những ngƣời lao động hết hạn hợp đồng làm việc đang liên hệ tìm việc làm mới).

Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, ngƣời ta đã đƣa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ “việc làm là gì? ”. Ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố (nhƣ điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp), ngƣời ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát chung nhất về việc làm. Song, cùng với sự phát triển của xã hội, quan niệm về việc làm cũng đƣợc nhìn nhận một cách khoa học, đầy đủ và đúng đắn hơn.

Theo cách tiếp cận của C.Mác cho thấy giữa việc làm có liên quan mật thiết với lao động. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con ngƣời với những nơi làm việc cụ thể mà ở đó lao động diễn ra, là điều kiện cần thiết nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội về lao động, là hoạt động lao động của con ngƣời. Dƣới góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tƣơng quan giữa các yếu tố con ngƣời và yếu tố vật chất hay giữa sức lao động và tƣ liệu sản xuất vật chất. Có nhiều cách quan niệm khác nhau về việc làm, nhƣng thực chất của việc làm là sự kết hợp sức lao động của con ngƣời với tƣ liệu sản xuất.

Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đƣa ra quan niệm: “Ngƣời có việc làm là những ngƣời làm một việc gì đó, có đƣợc trả tiền công, lợi nhuận hoặc những ngƣời 10 tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích vì thu nhập gia đình, không nhận đƣợc tiền công hay hiện vật”. (Tổ chức Lao động Quốc tế (1998)) Từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nƣớc đến nay, quan niệm về việc làm đã đƣợc nhìn nhận đúng đắn và khoa học. Quan niệm về việc làm tại Việt Nam đƣợc quy định trong Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2012. Tại điều 9, Chƣơng II chỉ rõ: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm”.

Nhƣ vậy, việc làm đƣợc hiểu đầy đủ nhƣ sau: “Việc làm là hoạt động lao động của con ngƣời nhằm mục đích tạo ra thu nhập đối với cá nhân, gia đình hoặc cho toàn xã hội, các hoạt động này không bị pháp luật cấm”. Việc làm là một phạm trù lịch sử, phụ thuộc vào điều kiện KTXH của mỗi quốc gia trong các giai đoạn phát triển khác nhau. Việc mở rộng hay thu hẹp việc làm, phát huy hay kìm hãm năng lực tạo việc làm phụ thuộc vào yếu tố kinh tế - chính trị - xã hội của quốc gia, địa phƣơng hay DN. Việc làm tự tạo: đây là khái niệm mới đƣợc đƣa ra từ TS Lê Xuân Bá và các cộng sự trong đề tài “Các yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn Việt Nam” (Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài khoa học do Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ƣơng thực hiện 2006).

Theo nhóm tác giả này, các hoạt động đƣợc xem là việc làm tự tạo “liên quan đến sự quản lý và sở hữu một cơ sở sản xuất các hàng hóa và dịch vụ”. Ví dụ những ngƣời có xƣởng sản xuất, cửa hàng, cửa hiệu chỉ có trách nhiệm với chính bản thân họ. Báo cáo đề tài này cũng nói rõ thêm: ở các nƣớc đang phát triển, sự phân chia lao động làm công ăn lƣơng và việc làm tự tạo nhiều khi không rõ. Có một khoảng trùng lặp giữa lao động đƣợc trả công và lao động tự trả công mà ở đó các hoạt động này có thể đƣợc xem là lao động đƣợc thuê vừa có thể là lao động tự thuê.

Với ý nghĩa của khái niệm này, liên hệ với các vùng nông thôn, lao động tại gia đình có thể thấy việc làm tự tạo trong nông nghiệp, nông thôn, tại các gia đình là rất lớn và rất quan trọng. Tuyệt đại bộ phận nông dân, ngƣời nội trợ làm việc trên đồng ruộng, tại gia đình đều là những lao động tự trả công hay nói một cách khác là 11 những ngƣời tự tạo ra việc làm. Đây là điều rất có ý nghĩa trong nghiên cứu tìm giải pháp giải quyết việc làm tại chỗ cho lao động trên địa bàn huyện. Thất nghiệp Có nhiều quan niệm khác nhau về thất nghiệp, nhƣng nội dung cơ bản của thất nghiệp là đề cập về việc: ngƣời lao động có khả năng làm việc, mong muốn làm việc nhƣng không đƣợc làm việc.

Samuelson – nhà kinh tế học của Trƣờng phái hiện đại cho rằng: “Thất nghiệp là những ngƣời không có việc làm, nhƣng đang chờ để trở lại việc làm hoặc đang tích cực tìm việc làm”. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số ngƣời trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhƣng không thể tìm đƣợc việc làm ở mức tiền công thịnh hành”. (Tổ chức Lao động Quốc tế (1998)) Mặt khác, thất nghiệp là một vấn đề xã hội rất nhạy cảm, là mối quan tâm lớn của tất cả các quốc gia, khi mức thất nghiệp tăng quá mức tự nhiên (cho phép) tài nguyên sẽ bị lãng phí, thu nhập của ngƣời lao động giảm và rơi vào tình trạng nghèo đói; nền kinh tế suy thoái, lạm phát cao dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội. Do đó, tỉ lệ thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu trọng yếu để xem xét, đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, sự tiến bộ xã hội, là mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới.

Thiếu việc làm Một số nƣớc có điểm xuất phát càng thấp, trong quá trình phát triển vấn đề đảm bảo việc làm đầy đủ cho ngƣời lao động càng khó khăn và cấp thiết dẫn đến thiếu việc làm. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ngƣời thiếu việc làm là ngƣời trong tuần lễ tham khảo có số giờ làm việc dƣới mức quy định chuẩn cho ngƣời có đủ việc làm và có nhu cầu làm thêm. (Tổ chức Lao động Quốc tế (1998)) Theo hƣớng dẫn điều tra lao động của Bộ LĐ, TB & XH thì ngƣời thiếu việc làm bao gồm “những ngƣời trong tuần lễ tính đến thời điểm điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn 40 giờ, hoặc có số giờ làm việc nhỏ hơn giờ quy định đối với những ngƣời làm các công việc nặng nhọc, độc hại theo quy định của nhà nƣớc, có nhu cầu làm thêm giờ, sẵn sàng làm việc nhƣng không có việc làm”. (Trung tâm 12 Thông tin, Thống kê lao động và xã hội - Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội, (2000)) Thiếu việc làm có hai dạng : Một là, Thiếu việc làm vô hình: là khi thời gian sử dụng cho SXKD không có hiệu quả dẫn đến thu nhập thấp, NLĐ phải làm việc bổ sung thêm để tăng thu nhập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ