Tổng quan nghiên cứu

Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ giữ vai trò huyết mạch đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, giai đoạn 2010 - 2025 cả nước cần khoảng 75 tỷ USD (bình quân 5 tỷ USD/năm) cho giao thông đường bộ, trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng mức đầu tư khoảng 2% đến 2,5% GDP mỗi năm. Sự thiếu hụt nguồn vốn ngân sách và suy giảm nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đặt ra yêu cầu cấp thiết phải huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân thông qua mô hình đối tác công - tư (PPP).

Tại tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2011 - 2015 ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 15,7%/năm, đưa quy mô kinh tế của tỉnh đứng thứ 6 toàn quốc và GRDP bình quân đầu người năm 2015 đạt 5.192 USD. Để đáp ứng tốc độ đô thị hóa nhanh và mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Bắc Ninh đã phê duyệt danh mục 21 dự án hạ tầng giao thông đầu tư theo hình thức PPP trong giai đoạn 2009 - 2015. Mặc dù vậy, toàn tỉnh mới chỉ triển khai thực tế được 5 dự án, chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 23,8%.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Phạm Văn Ninh tập trung đánh giá toàn diện thực trạng, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện mô hình PPP trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế trọng điểm gồm thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Tiên Du và huyện Yên Phong từ năm 2009 đến năm 2015, tạo tiền đề khoa học cho việc tái cơ cấu đầu tư công của địa phương trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết hàng hóa công cộng kết hợp với khung phân bổ rủi ro tối ưu trong các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư được Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các học giả quốc tế chuẩn hóa. Theo đó, PPP trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ được định nghĩa là sự hợp tác bình đẳng trên cơ sở hợp đồng dài hạn giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư tư nhân, trong đó các nguồn lực tài chính, năng lực kỹ thuật và rủi ro được chia sẻ tương xứng.

Bên cạnh mô hình đánh giá rủi ro mờ (Fuzzy Risk Allocation Model - FRAM), luận văn làm rõ 6 phương thức tổ chức PPP phổ biến trên thế giới và tại Việt Nam: Xây dựng - Chuyển giao (BT), Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (BTO), Thiết kế - Xây dựng - Tài trợ - Vận hành (DBFO), Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO) và Hợp đồng dịch vụ quản lý (O&M). Tác giả phân tích sâu 3 khái niệm cốt lõi: cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, doanh nghiệp dự án (DNDA) và cơ chế chia sẻ rủi ro tài chính khi tỷ lệ vốn vay tín dụng thương mại thường chiếm tới 80% đến 85% tổng mức đầu tư.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thức từ Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng và Cổng thông tin điện tử tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2009 - 2015. Nguồn dữ liệu sơ cấp được điều tra thông qua bảng hỏi khảo sát trực tiếp các nhóm chủ thể: cán bộ quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện, đại diện doanh nghiệp dự án, cùng các hộ dân chịu tác động tại vùng dự án.

Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng tại 4 địa bàn trọng điểm (thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Tiên Du, huyện Yên Phong), đại diện cho 3 dự án tiêu biểu: Dự án cải tạo nâng cấp Tỉnh lộ 295B giai đoạn 1, Dự án Tỉnh lộ 295B giai đoạn 2 và Dự án xây dựng Tỉnh lộ 277. Việc lựa chọn này đảm bảo bao quát cả 2 hình thức khởi xướng: dự án do Ủy ban nhân dân tỉnh đề xuất và dự án do nhà đầu tư đề xuất.

Dữ liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê và tổng hợp điểm đánh giá định lượng theo thang đo Likert. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác các tiêu chí định tính phức tạp như: năng lực đàm phán hợp đồng, mức độ minh bạch của thủ tục lựa chọn nhà đầu tư và tính khả thi của cơ chế thanh toán quỹ đất đối ứng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô triển khai dự án thực tế còn khoảng cách rất lớn so với danh mục quy hoạch. Trong giai đoạn 2009 - 2015, tỉnh Bắc Ninh đã quy hoạch 21 dự án hạ tầng giao thông đường bộ theo hình thức PPP, nhưng chỉ có 5 dự án được ký kết hợp đồng và triển khai xây dựng trên thực tế, đạt tỷ lệ hoàn thành bước đầu 23,8%.

Thứ hai, cơ cấu hình thức hợp đồng có sự mất cân đối tuyệt đối khi 100% dự án đã triển khai đều áp dụng hình thức Xây dựng - Chuyển giao (BT). Cơ chế thanh toán cho nhà đầu tư hoàn toàn dựa vào việc giao đất đối ứng để thực hiện các dự án thương mại, đô thị, tạo ra sức ép nặng nề lên quỹ đất sạch của tỉnh vốn chỉ có tổng diện tích tự nhiên hạn hẹp là 822,7 km2.

Thứ ba, công tác lựa chọn nhà đầu tư bộc lộ nhiều điểm nghẽn về tính cạnh tranh khi 100% dự án đều áp dụng hình thức chỉ định thầu. Việc thiếu vắng cơ chế đấu thầu rộng rãi dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp dự án phụ thuộc tới 85% vào vốn vay ngân hàng thương mại, trong khi vốn chủ sở hữu chỉ duy trì ở mức tối thiểu 15%, làm gia tăng đáng kể rủi ro đình trệ tài chính khi thị trường tín dụng biến động.

Thứ tư, điểm đánh giá của các bên tham gia về năng lực quản lý dự án của cán bộ nhà nước và môi trường thể chế chỉ dừng lại ở mức trung bình và dưới trung bình. Cụ thể, các tiêu chí về tính rõ ràng trong phân chia rủi ro giải phóng mặt bằng, mức độ đồng bộ của quy trình thủ tục và chế tài xử lý vi phạm hợp đồng đều bị đánh giá thấp do văn bản pháp lý địa phương chưa kịp thời chuẩn hóa theo các quy định mới của Trung ương.

Thảo luận kết quả

Thực trạng chậm trễ triển khai các dự án PPP giao thông tại Bắc Ninh bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ trong khung pháp lý thời kỳ chuyển giao giữa Quyết định 71/2010/QĐ-TTg, Nghị định 108/2009/NĐ-CP và Nghị định 15/2015/NĐ-CP. Việc áp dụng duy nhất loại hợp đồng BT khiến nguồn lực bị phụ thuộc hoàn toàn vào tốc độ bồi thường giải phóng mặt bằng và tiến độ xác định giá trị quyền sử dụng đất đối ứng.

Kết quả nghiên cứu này hoàn toàn tương đồng với các phát hiện trong nghiên cứu của một số chuyên gia kinh tế tại Việt Nam khi chỉ ra rằng việc chỉ định thầu tràn lan và lạm dụng vốn vay ngân hàng sẽ làm giảm hiệu lực giám sát kỹ thuật, kéo dài thời gian thi công và đẩy tổng mức đầu tư lên cao. Trong thực tế, toàn bộ dữ liệu khảo sát năng lực các bên và tỷ lệ giải ngân vốn dự án có thể được trực quan hóa tối ưu qua biểu đồ thanh ngang so sánh giữa kế hoạch và thực hiện, kết hợp cùng bảng ma trận phân bổ rủi ro 5 cấp độ để các cơ quan chuyên môn theo dõi trực tiếp.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện cơ chế thực hiện PPP giao thông đường bộ tại Bắc Ninh:

  • Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng đàm phán hợp đồng cho đội ngũ cán bộ công chức: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì tổ chức các chương trình tập huấn chuyên sâu về phân tích tài chính dự án, quản trị rủi ro và thẩm định hồ sơ PPP. Mục tiêu đạt 100% cán bộ trực tiếp quản lý dự án được đào tạo chuẩn hóa trong giai đoạn 2016 - 2018, giúp rút ngắn khoảng 30% thời gian thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi.

  • Đa dạng hóa các hình thức hợp đồng PPP và giảm dần tỷ trọng hợp đồng BT: Sở Giao thông vận tải phối hợp cùng Sở Tài chính nghiên cứu áp dụng linh hoạt các mô hình BOT, BTO hoặc DBFO cho các tuyến đường và cầu có lưu lượng phương tiện lớn. Mục tiêu cắt giảm tỷ lệ dự án thuần BT xuống dưới 50% trong giai đoạn 2016 - 2020, tiết kiệm tối thiểu 20% quỹ đất công dành cho mục đích đối ứng đô thị.

  • Thực thi nghiêm túc cơ chế đấu thầu rộng rãi lựa chọn nhà đầu tư: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng triệt để Nghị định 30/2015/NĐ-CP và Luật Đấu thầu, chấm dứt hoàn toàn việc chỉ định thầu không qua sơ tuyển. Đảm bảo 100% thông tin dự án được công bố công khai trên Báo Đấu thầu và Cổng thông tin điện tử tỉnh tối thiểu 30 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, nhằm thu hút các tập đoàn có năng lực tài chính mạnh.

  • Thiết lập cơ chế phân bổ rủi ro minh bạch và quản lý quỹ đất dự phòng: Sở Tài nguyên và Môi trường xây dựng quy hoạch quỹ đất sạch đối ứng đồng bộ trước khi phê duyệt dự án, đảm bảo tỷ lệ hoàn thành giải phóng mặt bằng đạt trên 95% trước ngày khởi công. Đồng thời, các ngân hàng thương mại và nhà đầu tư cần xây dựng điều khoản chia sẻ rủi ro biến động lãi suất và trượt giá vật liệu, khống chế tỷ lệ an toàn vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước cấp địa phương (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Giao thông vận tải, Ban Quản lý dự án): Sử dụng luận văn làm tài liệu tham chiếu để chuẩn hóa quy trình lập danh mục dự án, xây dựng tiêu chí chấm thầu minh bạch và hoàn thiện hợp đồng dự án PPP giao thông đường bộ.

  • Các doanh nghiệp xây dựng, nhà đầu tư hạ tầng giao thông: Khai thác các bài học thực tiễn về cấu trúc tài trợ vốn vay (85% tổng mức đầu tư), phương thức định giá đất đối ứng và quy trình đàm phán hợp đồng BT/BOT để tối ưu hóa hiệu quả tài chính và giảm thiểu rủi ro pháp lý.

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khối ngành Quản lý kinh tế: Tham khảo hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu thực chứng, bảng hỏi khảo sát định lượng theo thang đo 5 mức độ và phương pháp phân tích mô hình PPP cấp tỉnh.

  • Các tổ chức tư vấn tài chính, luật sư chuyên ngành đầu tư công: Ứng dụng khung lý thuyết phân bổ rủi ro và các tiền lệ xử lý sai phạm trong giải phóng mặt bằng, kiểm toán quyết toán công trình để tư vấn cấu trúc hợp đồng dự án đạt chuẩn quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỉnh Bắc Ninh chỉ áp dụng duy nhất loại hình hợp đồng BT trong giai đoạn 2009 - 2015? Trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách hạn hẹp nhưng tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, hình thức BT giúp tỉnh huy động ngay nguồn lực tài chính từ tư nhân để xây dựng đường mà không phải chi trả tiền mặt, mà thanh toán bằng quỹ đất có tiềm năng thương mại cao.

Tỷ lệ 100% dự án áp dụng chỉ định thầu gây ra những rủi ro gì? Việc chỉ định thầu làm triệt tiêu tính cạnh tranh thị trường, khiến cơ quan quản lý khó chọn lọc được nhà đầu tư có năng lực kỹ thuật và tài chính vượt trội, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phát sinh chi phí, kéo dài tiến độ và gây áp lực lên công tác giám sát chất lượng.

Cơ cấu tài chính với 80% đến 85% vốn vay ảnh hưởng thế nào đến dự án PPP? Tỷ lệ vốn vay quá cao khiến chi phí lãi vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức đầu tư. Khi thị trường tài chính thắt chặt tín dụng hoặc lãi suất biến động tăng vọt, doanh nghiệp dự án sẽ mất khả năng thanh toán, dẫn đến tình trạng công trình bị đình trệ kéo dài.

Làm thế nào để xử lý nút thắt giải phóng mặt bằng tại các dự án Tỉnh lộ 295B và Tỉnh lộ 277? Ủy ban nhân dân tỉnh và các địa phương cần hoàn tất công tác bồi thường, tái định cư và bàn giao mặt bằng sạch trước khi ký hợp đồng chính thức, đồng thời quy định rõ trách nhiệm tài chính và mốc thời hạn cụ thể giữa chính quyền và doanh nghiệp dự án.

Nghị định 15/2015/NĐ-CP và Nghị định 30/2015/NĐ-CP mang lại chuyển biến gì cho hoạt động PPP tại địa phương? Hai nghị định này tạo ra khung pháp lý hoàn chỉnh, thống nhất quy trình chuẩn bị dự án, bắt buộc áp dụng cơ chế đấu thầu công khai chọn nhà đầu tư và quy định rõ tỷ lệ vốn chủ sở hữu tối thiểu, từ đó nâng cao tính minh bạch và hiệu quả đầu tư công.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ cấp tỉnh.
  • Đánh giá toàn diện thực trạng triển khai 21 dự án danh mục PPP và phân tích chuyên sâu 3 dự án trọng điểm (Tỉnh lộ 295B giai đoạn 1, 2 và Tỉnh lộ 277) tại Bắc Ninh giai đoạn 2009 - 2015.
  • Chỉ rõ 4 tồn tại cốt lõi: tỷ lệ triển khai thực tế chỉ đạt 23,8%, 100% dự án áp dụng hình thức BT, 100% dự án chỉ định thầu và mức độ phụ thuộc vốn vay lên tới 85%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá về nâng cao năng lực cán bộ, đa dạng hóa hợp đồng, đấu thầu minh bạch và tối ưu hóa quản lý rủi ro tài chính - đất đai.
  • Cung cấp luận cứ khoa học vững chắc phục vụ công tác tái cơ cấu đầu tư công và hoàn thiện chính sách thu hút nguồn lực tư nhân phát triển hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2016 - 2020.

Độc giả, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu có thể tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Văn Ninh tại thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để ứng dụng các mô hình đánh giá và phương pháp luận vào thực tiễn quản trị dự án.