CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC BOT 1.1 Các khái niệm “Ðầu tư” là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động. trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư – trích mục 1&7, điều 3 Luật đầu tư. “Dự án đầu tư” là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định. “Dự án BOT” là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để đầu tư xây dựng, vận hành công trình kết cấu hạ tầng mới hoặc cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa, vận hành, quản lý các công trình hiện có theo hình thức Hợp đồng BOT.
“Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao” (gọi tắt là Hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa Cơ quan nhà nước và Nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, Nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam. “Doanh nghiệp BOT” là doanh nghiệp do Nhà đầu tư thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tổ chức quản lý kinh doanh Dự án. Doanh nghiệp BOT có thể trực tiếp quản lý, kinh doanh công trình Dự án hoặc thuê tổ chức quản lý, với điều kiện Doanh nghiệp chịu toàn bộ trách nhiệm của tổ chức quản lý. “Nhà đầu tư “ theo định nghĩa tại Nghị định 78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh, Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao thì Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân đầu tư vốn thực hiện Dự án.
10 “Chủ đầu tư dự án BOT” là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc do các thành viên góp vốn (các nhà đầu tư) thoả thuận cử ra hoặc là người có tỷ lệ góp vốn cao nhất.2 Sự cần thiết phải đầu tư phát triển hạ tầng giao thông Viện chiến lược giao thông vận tải đã sử dụng “Phương pháp tương quan giữa tăng trưởng lượng vận tải và tăng trưởng GDP” để dự báo nhu cầu vận chuyển sử dụng kết cấu hạ tầng giao thông. Bản chất của phương pháp này là xác lập hàm tương quan của khối lượng vận tải và tổng sản phẩm nội địa (GDP), cụ thể là mối tương quan giữa tốc độ tăng trưởng của GDP với tốc độ tăng trưởng khối lượng vận tải. yt − yt −1 yt V (%) E (t ) = = vt (1.1) xt − xt −1 VGDP (%) xt ⇒ Vvt = E (t ) × VGDP (1.2) Trong đó: yt và yt-1 là khối lượng vận tải ở năm t và năm t-1 xt và xt-1 là giá trị của GDP ở năm t và t-1 E(t) là hệ số đàn hồi. Vvt là tăng trưởng của lượng vận chuyển VGDP là tăng trưởng của GDP Qua nghiên cứu của Viện chiến lược - Bộ Kế hoạch Đầu tư, kết hợp với thống kê tăng trưởng kinh tế trong những năm qua, đã đưa ra Dự báo tăng trưởng kinh tế cả nước theo 3 phương án: Bảng 1.1: Dự báo tăng trưởng kinh tế đến 2020 TT Phương án 2005 2010 2015 2020 1 Phương án thấp 8,43 8,0 7,5 7,5 2 Phương án vừa 8,43 8,8 8,25 8,25 3 Phương án cao 8,43 9,6 9,0 9,0 Nguồn : Chiến lược phát triển kinh tế đến 2020 của Bộ Kế hoạch đầu tư 11 Từ 2 kết quả nghiên cứu dự báo trên, đồng thời thực nghiệm xác định E(t) (hệ số đàn hồi) thông thường bằng 1,2 như vậy có thể nói để đạt được sự phát triển bình thường của GDP theo dự báo ở mức trên 7,5% thì tăng trưởng về giao thông phải đi trước và phát triển trước GDP 1,2 lần.
Vì vậy nhu cầu đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông để đáp ứng lượng vận chuyển ngày càng tăng là cần thiết và là động lực để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Với việc gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), cả nước đang chuẩn bị mọi điều kiện để đón làn sóng đầu tư mới. Những năm tới đây nhu cầu đầu tư vào các khu công nghiệp trong khu vực sẽ rất lớn do có rất nhiều lĩnh vực kinh doanh, khai thác hấp dẫn các nhà đầu tư. Để đạt được các mục tiêu trên, cơ sở hạ tầng cần được chọn là bước đột phá.
Trong thời gian qua, việc đầu tư vào hệ thống CSHT bước đầu đã có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế xã hội. Hàng loạt các tuyến quốc lộ đã được cải tạo nâng cấp; hệ thống cảng đang được đầu tư cải tạo mở rộng, hiện đại hóa cũng như xây dựng mới phục vụ tốt cho nhu cầu vận tải biển quốc tế; các sân bay Quốc tế được cải tạo, mở rộng .v mặc dù vậy, cơ sở hạ tầng GTVT vẫn còn chưa tương xứng với vai trò là trọng điểm trong phát triển kinh tế xã hội, đã và đang ảnh hưởng lớn đến sức phát triển của đất nước. So với các nước tiên tiến trong khu vực, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam còn ở mức dưới trung bình. Nói chung, kết cấu hạ tầng còn trong tình trạng yếu kém, quy mô nhỏ bé, hầu hết chưa đạt yêu cầu kỹ thuật, năng lực hạn chế, chưa tạo được sự kết nối liên hoàn, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự tăng trưởng kinh tế và được ví như là "nút cổ chai" của nền kinh tế trong thời gian tới.
Do vậy, Nhà nước không chỉ phải tập trung giải quyết các yếu kém hạ tầng hiện tại mà còn phải tập trung vào việc tiên lượng, qui hoạch và tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu hạ tầng trong tương lai. Nếu việc này không được thực hiện chuẩn xác, Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với các vấn đề hạ tầng lớn trong các năm tới, làm giảm năng lực của xã hội trong sự nghiệp giảm nghèo. Trên cơ sở tận dụng tối đa năng lực cơ sở hạ tầng giao thông hiện có, coi trọng việc duy tu, củng cố, nâng cấp mạng lưới giao thông hiện tại. Ða dạng hoá các 12 nguồn vốn, các hình thức đầu tư, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, vật liệu công nghệ mới để phát triển giao thông vận tải đường bộ một cách thống nhất, cân đối, đồng bộ.
Phát triển giao thông nông thôn, vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Phát triển giao thông vận tải đường bộ trong hệ thống giao thông đối ngoại, phục vụ việc hội nhập khu vực và quốc tế. Tuy nhiện, các dự án trong những năm vừa qua đều mới chỉ tập trung vào việc khôi phục, nâng cấp là chính, có ít công trình xây dựng mới. Kết cấu hạ tầng giao thông vẫn lạc hậu và chưa đồng bộ.
Nguyên nhân của các tồn tại, yếu kém trên chủ yếu là do hệ thống GTVT Việt Nam bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh nhưng thực chất mới chỉ được tập trung đầu tư, cải tạo, nâng cấp từ những năm đầu thập kỷ 90; Thiếu vốn để cải tạo, xây dựng kết cấu hạ tầng; Trình độ tổ chức quản lý chưa đáp ứng được nhu cầu; Chậm đổi mới về cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp GTVT. Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu và thiên nhiên khắc nghiệt luôn tác động gây ra những hậu quả tiêu cực, ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển GTVT. Có thể nói hạ tầng giao thông vận tải có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về mặt chiến lược, chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng… của một quốc gia. Do đó, việc tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách, có như vậy mới tạo được môi trường giao thông hữu hiệu, thu hút được vốn đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân và toàn xã hội.2 Dự án đầu tư theo hình thức BOT 1.1 Chu trình đầu tư Dự án xây dựng HTGT theo hình thức BOT: Chu trình dự án là các thời kỳ, các giai đoạn mà một dự án cần trải qua, bắt đầu từ khi có ý định đầu tư cho đến khi kết thúc dự án và được chia thành 3 giai đoạn thực hiện gồm : Chuẩn bị đầu tư, Thực hiện dự án, Kết thúc dự án.
Đối với Dự án BOT, các bước cụ thể trong từng giai đoạn quy định như sau: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: (1). Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư. Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng 13 (3). Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc ngoài nước để tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm.
Xem xét khả năng huy động vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư. Công bố danh mục dự án đầu tư theo hình thức BOT. Xúc tiến kêu gọi đầu tư BOT. Lập, thông qua Đề xuất Dự án (báo cáo Nghiên cứu Tiền khả thi).
Lựa chọn Nhà đầu tư (đấu thầu hoặc chỉ định thầu). Lập thẩm định, phê duyệt Dự án đầu tư (báo cáo Nghiên cứu Khả thi). Đàm phán thương thảo, ký kết hợp đồng Dự án (Hợp đồng BOT). Giai đoạn thực hiện đầu tư: (10).
Xin giao đất theo quy định của Nhà nước. Tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị mặt bằng xây dựng. Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát thiết kế, giám sát kỹ thuật. Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình.
Tổ chức lựa chọn nhà thầu cung ứng thiết bị, thi công. Xin giấy phép xây dựng. Ký kết hợp đồng với các nhà thầu để thực hiện dự án. Thi công xây lắp công trình.
Kết thúc xây dựng (19). Nghiệm thu đưa dự án vào khai thác sử dụng. Thời kỳ kết thúc dự án gồm các giai đoạn: (20). Bảo hành công trình.
Vận hành, quản lý khai thác dự án. Kết thúc dự án, bàn giao không hoàn lại cho Nhà nước.2 Phương pháp đánh giá dự án đầu tư BOT 1.1 Cơ sở pháp lý - Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005. - Luật Xây dựng số 11/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003. - Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005.
14 - Luật Dân sự số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005. - Luật đất đai số 13/2003/QH11 ngày 10/12/2003.