Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách thúc đây DMCN trong công tác lưu trữ dir liệu của cán bộ Chương 2. Thực trạng chính sách ĐMCN trong công tác lưu trữ dữ liệu của cán bộ tại tường ĐHKHXH&NVHN. Giải pháp chính sách DMCN nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác lưu trữ dữ liệu của cán bộ tại trường DHKHXH&NVHN.
Kết luận 13 PHAN NOI DUNG CHUONG I: CO SO LY LUAN VE CHINH SACH DOI MOI CONG NGHE TRONG CONG TAC LUU TRU DU LIEU CUA CAN BO 1. Cac khai niém 1. Khái niệm chính sách Vũ Cao Đàm đã đưa ra và phân tích các cách tiếp cận để xem xét khái niệm “chính sách” như tiếp cận chính tri học, tiếp cận xã hội học, tiếp cận nhân học và nhân học xã hội, tiếp cận tâm lý học, tiếp cận kinh tế học, tiếp cận đạo đức học, tiếp cận lý thuyết trò chơi, tiếp cận hệ thống, tiếp cận khoa học pháp lý, tiếp cận tổng hợp. Tổng hợp từ tất cả các cách tiếp cận trên, tác giả Vũ Cao Đàm (2011) đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà chủ thê quyền lực hoặc chủ thé quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi đối với một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [21, tr 29].
Mọi chính sách đều có một khung mẫu nhất định, khung mau của chính sách có cau trúc gồm bốn tang: Triết lý - philosophy: Là tầm tư tưởng, tầm quan trọng nhất của chính sách, chi phối các tang dưới, đây là tư tưởng cốt lõi về mục tiêu phát triển của hệ thống. Triết lý của chính sách được chia ra làm triết lý mục tiêu và triết lý phương tiện. Hệ quan điểm - conception: Những triết lý cụ thé về từng mặt của chính sách; cũng giống với triết lý, hệ quan điểm bao gồm hệ quan điểm mục tiêu và hệ quan điểm phương tiện. Hệ chuẩn mực - norm: Những quy tắc ứng xử được một cộng đồng thừa nhận và được sử dụng đề điều chỉnh hành vi.
Hệ khái niệm - notions: Mỗi chính sách đều có một hệ khái niệm đặc trưng bị chỉ phối bởi triết lý của chính sách. Về đặc điểm của chính sách, Vũ Cao Dam (2011) xem chính sách là một thiết chế xã hội, bao gồm: - Tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hay chủ thể quản lý đưa ra, được thé chế hóa thành những quy định có giá trị pháp lý nhăm thực hiện chiến lược phát triển của một hệ thong theo mục đích của chủ thé. - Các biện pháp ưu đãi có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm 14 được ưu đãi, đây là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà chủ thê quản lý đã đề ra. - Tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực hay chủ thé quan ly đối với các nhóm xã hội khác nhau.
Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quản lý có sự ưu đãi hơn so với các nhóm đối tượng xã hội khác. - Tạo ra những biến đổi xã hội phù hợp với mục tiêu mà chủ thể chính sách vạch ra đề thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của mục tiêu phát triển toàn hệ thống. Qua tìm hiểu, tác giả cho rằng “Chính sách là tập hợp những biện pháp và kế hoạch cụ thé do chủ thé quản lý đề ra dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế, để điều khién đối tượng quản lý thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tô chức”. Khai niệm công nghệ Quan niệm về công nghệ rất đa dạng, mỗi nhà nghiên cứu sẽ có cách tiếp cận khác nhau.
Trên quan điểm tiếp cận thuật ngữ công nghệ phù hợp với hướng nghiên cứu của luận văn, đưới đây là hai quan điểm về công nghệ mà tác giả hướng tới. Trong bài giảng học phần Quản lý Công nghệ của TS. Nguyễn Đình Bình Công nghệ dùng dé chỉ hoạt động trong mọi lĩnh vực có áp dụng những kiến thức là kết quả của NCKH ứng dụng nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người” [9, tr 2]. Ngoài ra, Uy Ban Kinh Tế và Xã Hội Châu A Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) định nghĩa về công nghệ như sau: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng dé chế biến vật liệu và xử lý thông tin.
Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ” [32]. Theo định nghĩa này, không chỉ sản xuất vật chất mới dùng đến công nghệ mà mở rộng ra là tất cả các hoạt động xã hội ví dụ như các công việc văn phòng, dịch vụ ngân hang, bảo hiểm, công tác lưu trữ, giáo duc dao tao,. Mỗi cách tiếp cận sẽ đưa ra một khái niệm công nghệ khác nhau, tuy nhiên xét tong quát các quan điểm thì công nghệ bao gồm một bộ biến đổi (trong đó có máy móc, thiết bị, con người, thông tin,.) thực hiện chức năng biến đổi đầu vào thành 15 dau ra theo một quy trình để tao ra sản phẩm có giá trị. Việc quản lý tốt và vận hành một cách có hiệu quả công nghệ để đánh giá quản lý chất lượng đồng bộ (Total Quality Management), điều này có nghĩa là cần phải quản lý mọi thành phần cấu thành và các yếu tổ có liên quan đến công nghệ đó.
Dưới đây là sơ đồ quá trình biến đôi của một công nghệ: Đâu vào Đâu ra — Bộ biến đổi —— Hình 1. Quá trình biến đỗi của một công nghệ 1. Các bộ phận cấu thành công nghệ Theo Sharif (Management of Technology for Developing Coutries) thì mỗi công nghệ, dù là công nghệ đơn giản cũng phải gồm có bốn thành phần. Các thành phần này hàm chứa trong vật tư kỹ thuật, trong khả năng của con người, trong các dữ liệu hay còn gọi là phần thông tin và khung thê chế hay là phần tô chức.
Phần vật tư kỹ thuật còn có tên gọi khác là phần cứng, các phần còn lại là phần mềm. Phần vật tư kỹ thuật (Technoware - T): Công nghệ được thể hiện trong vật tư kỹ thuật bao gồm các công cụ, máy móc thiết bị, phương tiện, các cấu trúc hạ tầng xây dựng như nhà xưởng,.Trong công nghệ sản xuất, phần vật tư kỹ thuật thường làm thành dây chuyền dé thực hiện quá trình biến đổi hay còn gọi là dây chuyền công nghệ, quy trình công nghệ phải nhất định và đảm bảo tính liên tục trong quá trình hoạt động của công nghệ đó. Phần con người (Humanware - H) thành phan của công nghệ được hàm chứa trong khả năng công nghệ của con người qua vận hành sử dụng công nghệ, được thé hiện trong quá trình con người được đảo tạo để có sự hiểu biết về kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, tính sáng tạo, khả năng phối hợp, khả năng lãnh đạo, hình thành văn hóa môi trường làm việc,. được học hỏi và tích lũy trong quá trình vận hành và sử dụng công nghệ đó.
Phần thông tin (Inforware - I) thành phần của công nghệ được hàm chứa trong các dữ liệu đã được tư liệu hoá dé sử dụng trong các hoạt động với công nghệ, 16 bao gồm các dit liệu về máy móc, về phần con người va phần tổ chức như các lý thuyết, phương pháp, công thức, các thông số và các bí quyết công nghệ. Phần tô chức (Orgaware - O) công nghệ hàm chứa trong khung thé chế dé xây dựng cấu trúc tô chức: những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ, sự phối hợp của các cá nhân hoạt động trong công nghệ, kể cả những quy trình tuyến dụng, đảo tạo, đề bạt, thù lao, khen thưởng kỷ luật và sa thải phần COn người, bố trí sắp xếp thiết bị nhằm sử dụng tốt nhất phần vật tư kỹ thuật và phần con người. Công nghệ nào cũng có đầy đủ 4 thành phần trên, các thành phần này có quan hệ mật thiết, bố sung cho nhau, nếu thiếu một thành phần nào đó thì công nghệ không thể thực hiện được chức năng biến đồi dé tạo ra giá tri. Các đặc trưng của công nghệ Các đặc trưng của công nghệ bao gồm: Thứ nhất là chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ; thứ hai là Mức độ phức tạp của các thành phần công nghệ; thứ ba là Độ hiện đại của các thành phần công nghệ; cuối cùng là Vòng đời của một công nghệ.
Đề phân tích chuỗi phát triển của các thành phần công nghệ, trước tiên cần tìm hiểu thế nào là công nghệ nội sinh và công nghệ ngoại sinh hay còn được gọi là công nghệ chuyển giao. Công nghệ được nghiên cứu ở một quốc gia và được triển khai áp dụng ở chính quốc gia đó gọi là công nghệ nội sinh đối với quốc gia đó. Từ ý tưởng nghiên cứu tạo ra công nghệ đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và thị trường nước ngoài, tiếp đến là giai đoạn thiết kế và chế tạo thử sản phẩm dé trình diễn sử dung, đánh giá hiệu qua của công nghệ đã đáp ứng chất lượng thiết kế, sau bước này thì công nghệ mới đã được tạo ra, sau đó công nghệ được đưa vào sản xuất để cung cấp ra thị trường, tiếp đến công nghệ được truyền thông rộng rãi đến người tiêu dùng. Bất cứ công nghệ nào sau một khoảng thời gian đưa ra thị trường sẽ được người áp dụng công nghệ cải tiến dé phát triển công nghệ ở mức độ thích hợp cao hơn với nhu cầu và đánh giá chất lượng từ người tiêu dùng.
Dưới đây là sơ đô về chuỗi phát triển công nghệ nội sinh: 17 Truyền thông Hình 1. Sơ đồ phát triển công nghệ nội sinh (Nguôn: Bài giảng Quản lý Công nghệ của TS. Nguyễn Đình Bình) Từ chuỗi phát triển của công nghệ nội sinh thì bên cạnh những ưu điểm thì công nghệ nội sinh còn tồn tại một số nhược điểm như sau: Ưu điểm: - Phát triển theo nghiên cứu tạo ra công nghệ nội sinh tạo điều kiện để doanh nghiệp cũng như quốc gia dễ làm chủ công nghệ, bên tạo ra công nghệ không phụ thuộc nhiều vào nước ngoài, đặc biệt về kỹ thuật; công nghệ phát triển như vậy có mức độ thích hợp cao hơn.