Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu kho tàng văn hóa đồ sộ với gần 60.000 di sản văn hóa phi vật thể và hơn 40.000 di tích lịch sử trên khắp 63 tỉnh thành. Tuy nhiên, tốc độ xuống cấp của các công trình kiến trúc cổ do biến đổi khí hậu và tác động của con người đang diễn ra nhanh gấp 2 đến 3 lần so với năng lực trùng tu thực tế. Đứng trước thách thức bảo tồn các giá trị nguyên bản, việc ứng dụng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ quét không gian 3 chiều và thực tại ảo, đã trở thành xu thế tất yếu trên toàn cầu.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ của tác giả Lê Thị Thu Hiền tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để xây dựng hệ thống chính sách hiệu quả nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ 3D trong công tác bảo tồn di sản văn hóa tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc hệ thống hóa cơ sở lý luận chính sách khoa học công nghệ, phân tích thực trạng triển khai và đề xuất các giải pháp chính sách đồng bộ, có tính khả thi cao.

Nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi không gian tại Nhà hát Lớn Hà Nội – công trình kiến trúc hơn 100 năm tuổi được xây dựng từ năm 1911 và xếp hạng di tích quốc gia năm 2011 – cùng khung thời gian khảo sát từ năm 2012 đến năm 2017. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được chứng minh qua kết quả tiếp nhận và vận hành sản phẩm tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội, thu hút hơn 1.000.000 lượt truy cập chỉ sau 6 tháng ra mắt, mở ra hướng đi đột phá trong việc số hóa dữ liệu và lan tỏa giá trị di sản đến cộng đồng trong nước và quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý luận về chính sách khoa học và công nghệ của tác giả Vũ Cao Đàm và định nghĩa chuẩn hóa của Tổ chức UNESCO. Theo đó, chính sách khoa học và công nghệ là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa thông qua văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh hành vi, tạo động lực cho các chủ thể tham gia vào hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ.

Đề tài vận dụng mô hình đánh giá 4 thành phần công nghệ của Nawaz Sharif và K. Ramanathan năm 1988 (được Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương ESCAP mở rộng), bao gồm:

  • Thành phần kỹ thuật, thiết bị: Máy quét laser 3D, hệ thống máy chủ lưu trữ và xử lý đồ họa.
  • Thành phần con người: Năng lực chuyên môn của đội ngũ kỹ sư công nghệ và chuyên gia di sản.
  • Thành phần thông tin: Cơ sở dữ liệu đám mây điểm, tài liệu lịch sử, quy trình số hóa chuẩn.
  • Thành phần tổ chức: Khung khổ pháp lý, cơ chế phối hợp liên ngành và mạng lưới liên kết viện - trường - doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, luận văn tiếp cận 2 trường phái bảo tồn lớn trên thế giới: quan điểm bảo tồn nguyên vẹn của Gregory J. Ashworth khởi xướng từ những năm 1850 và quan điểm bảo tồn thích ứng trên cơ sở kế thừa của các học giả đương đại như Alfrey, Putnam và Larkham. Ba khái niệm cốt lõi xuyên suốt công trình gồm: Di sản văn hóa theo Luật Di sản Văn hóa năm 2001, Công nghệ số hóa 3D và Chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong quản lý di sản.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm độ tin cậy khoa học, nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 15 chuyên gia quản lý văn hóa, kỹ sư công nghệ thông tin và 50 khách tham quan thực tế lẫn trực tuyến. Phương pháp chọn mẫu mục đích phi xác suất được áp dụng nhằm tiếp cận trực tiếp những cá nhân có chuyên môn sâu tại Cục Di sản Văn hóa, Viện Quốc tế Pháp ngữ, Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội và các doanh nghiệp công nghệ tiên phong.

Luận văn kết hợp hài hòa phương pháp phân tích định tính từ hệ thống văn bản pháp luật hiện hành như Nghị định 98/2010/NĐ-CP, Nghị định 86/2005/NĐ-CP, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 với phương pháp phân tích định lượng dữ liệu truy cập và phản hồi của người dùng. Việc lựa chọn phương pháp hỗn hợp này giúp đánh giá toàn diện cả tính khả thi của thể chế chính sách lẫn hiệu quả kỹ thuật thực tế của công nghệ quét không gian 3 chiều trong suốt giai đoạn nghiên cứu từ năm 2016 đến tháng 7 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc ứng dụng công nghệ quét laser 3D và thực tại ảo mang lại hiệu quả vượt trội trong việc phổ biến di sản văn hóa. Dự án Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội do Viện Quốc tế Pháp ngữ chuyển giao tháng 7 năm 2017 đã tích hợp 18 cảnh thực tại ảo 360 độ cùng hệ thống thuyết minh 3 thứ tiếng Việt, Pháp, Anh. Sau 6 tháng vận hành, hệ thống ghi nhận 1.000.000 lượt truy cập, cho thấy mức độ lan tỏa tăng trưởng ước tính hơn 300% so với các kênh quảng bá truyền thống.

Thứ hai, công nghệ số hóa 3D rút ngắn tối đa thời gian xử lý và bảo đảm độ chính xác tuyệt đối. Thời gian quét hiện trường và xuất dữ liệu hoàn chỉnh chỉ mất từ 24 đến 48 giờ. Mọi chi tiết kiến trúc, màu sắc, hoa văn và kết cấu chịu lực của công trình 106 năm tuổi đều được tái hiện chính xác 100% dưới dạng đám mây điểm, tạo lập hồ sơ kỹ thuật số vĩnh cửu.

Thứ ba, hệ thống chính sách hiện hành còn bộc lộ khoảng trống lớn. Dù Nghị định 98/2010/NĐ-CP đã cho phép áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào tu bổ di tích, Việt Nam vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật số hóa 3D, định mức chi phí và cơ chế bản quyền đối với dữ liệu di sản số.

Thứ tư, vai trò của nguồn lực xã hội hóa và hợp tác quốc tế là nhân tố quyết định thành công. Dự án tại Nhà hát Lớn chứng minh rằng sự kết hợp giữa nguồn lực chuyển giao công nghệ quốc tế từ hơn 30 dự án nghiên cứu của Viện Quốc tế Pháp ngữ cùng sự chủ động của đơn vị quản lý di sản đã giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt kinh phí nhà nước.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự chậm trễ trong việc nhân rộng công nghệ 3D tại các khu di tích bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa các thành phần công nghệ. Trang thiết bị máy quét laser có giá thành cao, trong khi nguồn nhân lực liên ngành vừa am hiểu văn hóa vừa thành thạo kỹ thuật số hóa còn rất khan hiếm tại các địa phương.

Khi so sánh với các nỗ lực cá nhân như nền tảng bảo tàng ảo VR3D của Nguyễn Văn Quang hay các dự án quét laser của Công ty An Thi tại Chùa Một Cột, Cổng Đoan Môn và Hoàng thành Thăng Long, mô hình hợp tác đa phương tại Nhà hát Lớn Hà Nội cho thấy tính bền vững cao hơn hẳn. Trong các báo cáo quản lý, dữ liệu này có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ so sánh lưu lượng tiếp cận trước và sau số hóa, cùng bảng ma trận phân tích năng lực công nghệ 4 thành phần nhằm làm rõ sự chênh lệch hiệu quả giữa mô hình tự phát và mô hình có sự hỗ trợ thể chế chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động số hóa di sản, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chính sách trọng tâm:

  • Hoàn thiện thể chế và ban hành quy chuẩn kỹ thuật số hóa: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng thông tư quy định tiêu chuẩn quốc gia về thu thập, xử lý và lưu trữ dữ liệu 3D di sản trước năm 2020, hướng tới mục tiêu chuẩn hóa 100% hồ sơ kỹ thuật số cho các di tích quốc gia đặc biệt.
  • Xây dựng cơ chế ưu đãi tài chính và xã hội hóa: Chính phủ cần ban hành chính sách giảm từ 10% đến 15% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các đơn vị tư nhân đầu tư tài chính hoặc thiết bị vào các dự án số hóa bảo tồn, phấn đấu nâng tỷ trọng vốn xã hội hóa đạt 40% đến 50% tổng kinh phí bảo tồn trong giai đoạn 2018–2022.
  • Thành lập Hiệp hội Ứng dụng Công nghệ 3D trong Bảo tồn Di sản: Bộ Nội vụ phối hợp với Đại học Quốc gia Hà Nội và các hiệp hội nghề nghiệp thành lập tổ chức nghề nghiệp chuyên môn trong vòng 12 tháng, tạo cầu nối chia sẻ dữ liệu đám mây điểm dùng chung giữa 63 tỉnh thành.
  • Đào tạo và nâng cao năng lực nhân lực liên ngành: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai chương trình bồi dưỡng kỹ năng số hóa không gian 3D cho ít nhất 500 cán bộ quản lý di tích và bảo tàng trên toàn quốc trong lộ trình từ năm 2018 đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cục Di sản Văn hóa và các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sử dụng khung lý luận của luận văn để tham mưu ban hành chính sách quản lý và tiêu chuẩn số hóa cho hơn 40.000 di tích trên phạm vi cả nước.
  • Ban quản lý di tích, bảo tàng và trung tâm văn hóa: Lãnh đạo các bảo tàng tham khảo quy trình thực tế để ứng dụng công nghệ quét 3D trong 24 đến 48 giờ, tạo lập bản sao kỹ thuật số bảo vệ hiện vật quý hiếm trước nguy cơ thiên tai và hỏa hoạn.
  • Doanh nghiệp công nghệ và tổ chức khởi nghiệp sáng tạo: Các công ty công nghệ khai thác mô hình hợp tác công tư và cấu trúc dữ liệu không gian 3 chiều để phát triển các ứng dụng du lịch ảo, bảo tàng ảo thương mại hóa phục vụ công chúng.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Giới học thuật thuộc các chuyên ngành Quản lý Khoa học Công nghệ, Văn hóa học và Công nghệ Thông tin sử dụng công trình như một tài liệu nghiên cứu điển hình về chuyển giao công nghệ quốc tế đạt 1.000.000 lượt tương tác.

Câu hỏi thường gặp

Công nghệ quét 3D mang lại lợi ích kỹ thuật cốt lõi nào cho công tác bảo tồn di tích? Công nghệ quét laser 3D cho phép thu thập dữ liệu tọa độ không gian chính xác 100% với tốc độ hoàn thành chỉ từ 24 đến 48 giờ. Toàn bộ kích thước, mặt cắt và màu sắc của công trình được lưu trữ an toàn, tạo cơ sở khoa học vững chắc để phát hiện sai lệch khi trùng tu hoặc phục dựng chính xác nguyên trạng nếu xảy ra sự cố hư hại.

Dự án Tham quan ảo Nhà hát Lớn Hà Nội đạt được thành tựu nổi bật gì sau khi đưa vào vận hành? Dự án được bàn giao năm 2017 với 18 điểm nhìn 360 độ và hệ thống thuyết minh bằng 3 ngôn ngữ quốc tế. Chỉ sau 6 tháng ra mắt, công trình đã thu hút hơn 1.000.000 lượt khách tham quan trực tuyến, trở thành một trong những mô hình số hóa di sản thành công nhất tại Việt Nam.

Khó khăn lớn nhất khi số hóa không gian di sản văn hóa phi vật thể là gì? Khác với di sản vật thể, các kỹ năng dân gian phi vật thể như cách chỉnh chiêng trong không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên đòi hỏi cảm nhận tinh tế của nghệ nhân. Do đó, thiết bị 3D hiện nay chỉ ghi nhận được hình ảnh không gian lễ hội chứ chưa thể số hóa trọn vẹn kỹ năng truyền khẩu, đòi hỏi phải tích hợp đa phương tiện chuyên sâu.

Khung pháp lý Việt Nam giai đoạn 2012–2017 đã có quy định riêng cho công nghệ 3D di sản chưa? Hệ thống pháp luật giai đoạn này mới dừng lại ở các định hướng chung như Nghị định 98/2010/NĐ-CP khuyến khích ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào bảo tồn. Chưa có văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt nào quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật số hóa 3D và bản quyền dữ liệu số di sản.

Tại sao cần thành lập Hiệp hội Ứng dụng Công nghệ 3D trong bảo tồn di sản? Hiệp hội sẽ đóng vai trò kết nối nguồn lực kỹ thuật và chuyên gia giữa 63 tỉnh thành, chuẩn hóa quy trình công nghệ 4 thành phần và thúc đẩy chuyển giao công nghệ quốc tế, khắc phục tình trạng số hóa tự phát, phân tán dữ liệu tại các địa phương hiện nay.

Kết luận

  • Công nghệ 3D scanning và thực tại ảo là giải pháp công nghệ mang tính bước ngoặt, giúp bảo tồn nguyên vẹn giá trị gốc và phát huy sức lan tỏa của di sản trong thời đại cách mạng công nghiệp.
  • Nghiên cứu đã hệ thống hóa thành công khung lý thuyết chính sách khoa học công nghệ, phân tích sâu sắc mô hình 4 thành phần công nghệ áp dụng riêng cho lĩnh vực di sản.
  • Kết quả thực nghiệm tại Nhà hát Lớn Hà Nội với 18 góc nhìn ảo và hơn 1.000.000 lượt tương tác đã khẳng định tính khả thi vượt trội của mô hình chuyển giao công nghệ quốc tế.
  • Luận văn chỉ rõ khoảng trống thể chế và đề xuất 4 nhóm chính sách chiến lược về quy chuẩn kỹ thuật, xã hội hóa vốn đầu tư, thành lập hiệp hội nghề nghiệp và đào tạo nhân lực.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2018–2022 nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác quản lý và số hóa di sản quốc gia.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã đặt nền móng lý luận thực chứng cho việc xây dựng chính sách quản lý khoa học và công nghệ trong lĩnh vực văn hóa tại Việt Nam. Để không bỏ lỡ cơ hội bảo vệ kho tàng di sản dân tộc trước tác động của thời gian, các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ cần nhanh chóng chung tay hành động, thể chế hóa các chính sách khuyến khích và triển khai số hóa 3D trên diện rộng ngay từ hôm nay.