Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CẢI TẠO VƯỜN TẠP 1. Khái niệm về vườn tạp và cải tạo vườn tạp * Vườn tạp hiểu một cách giản đơn là vườn quảng canh, là vườn đầu tư lao động, vật tư ít, hàm lượng kỹ thuật thấp, hiệu quả kinh tế kém. Vườn tạp là vườn trồng nhiều loại cây ăn quả theo kiểu “mùa nào thức đó” để cải thiện dinh dưỡng trong khẩu phần ăn hàng ngày của gia đình [20]. Vườn tạp có thể là vườn trồng một loại cây nhưng nhiều giống khác nhau, tuổi cây khác nhau dẫn đến trái cây không cùng chủng loại, kích thước to nhỏ, màu sắc quả không đồng nhất và giá trị kinh tế thấp.
Hiểu theo nghĩa đó thì diện tích vườn tạp hiện nay trên địa bàn huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình còn rất nhiều. Cải tạo vườn tạp là một yêu cầu cấp thiết của người làm vườn trong xu thế hội nhập cạnh tranh phát triển nền nông nghiệp hàng hoá. Hiện nay, có các loại hình vườn tạp sau đây: (1) vườn trồng lẫn lộn nhiều loại cây ăn quả (có từ 3 giống hoặc loài trở lên). Vị trí trồng bố trí tuỳ tiện, sử dụng không gian không hợp lý.
Trong quần thể cây trồng ở vườn các mối tương hỗ giữa các cây cùng loài và khác loài diễn biến theo chiều hướng nghịch nhiều hơn thuận, có sự cạnh tranh gay gắt về ánh sáng, nguồn dinh dưỡng, nước, độ ẩm; (2) vườn chỉ có 1 - 2 chủng loại cây ăn quả nhưng chất lượng giống không đảm bảo. Rất nhiều trường hợp chủ vườn mua cây giống qua người buôn nên không kiểm soát được tiêu chuẩn chất lượng và cây có sạch bệnh hay không. Cũng có trường hợp họ tự chiết lấy các cây đã mang bệnh đem trồng hoặc cho bạn bè (đối với cây có múi như cam quýt); (3) Vườn tuy đạt được tiêu chuẩn về giống, chỉ trồng 1 - 2 chủng loại cây song việc đầu 6 tư, chăm sóc, bón phân quản lý vườn cây không đúng mức, dẫn đến cây trong vườn sinh trưởng kém, chậm ra hoa, kém đậu quả, sâu bệnh không được phòng trừ kịp thời. do đó năng suất thấp, chất lượng kém.
Vì vậy, thu nhập hàng năm trên vườn thấp. (4) Vườn trồng cây ăn quả xen với nhiều loại cây khác như khoai, sắn, các loại đậu đỗ; với các loại cây lấy gỗ như lát hoa, gió trầm, sưa, cây keo, các loại cây khác như cây mây, tre, lá cọ. Trong vườn nhìn không ra được nhóm cây nào là cây chủ lực. Loại vườn này thường cho thu nhập rất kém.
Như vậy, qua phân tích trên chúng ta có thể hiểu cải tạo vườn tạp là hoạt động mỗi vườn chỉ trồng từ 01 - 02 loại cây có giá trị kinh tế cao và phá bỏ những loại cây tạp hiệu quả kinh tế thấp. Sự cần thiết phải cải tạo vườn tạp Thực trạng phát triển sản xuất cây ăn quả hiện nay có hiệu quả rất thấp. Do vậy, nhu cầu cải tạo và vấn đề nâng cao năng suất chất lượng sản phẩm cây ăn quả hiện nay là rất cần thiết và là một trong những vấn đề sống còn để nâng cao hiệu quả sản xuất trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế trong một tương lai không xa của nghề trồng cây ăn quả nước ta. Tình trạng không đồng đều về giống, quy trình kỹ thuật thâm canh thực hiện không đầy đủ, việc chăm bón tuỳ tiện dẫn đến sự chênh lệch khá lớn về chất lượng, sản phẩm kém khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Do đó thu nhập của người làm vườn sẽ thấp, không có điều kiện để đầu tư thâm canh tiếp và đặc biệt sẽ ảnh hưởng lớn đến thu nhập hàng năm. Người làm vườn hơn lúc nào hết cần chủ động, sớm có kế hoạch cải tạo vườn tạp để vườn cây ăn quả nhà mình có năng suất cao, chất lượng tốt, đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm để tăng thu nhập mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện môi trường sống. Tuy nhiên, để cải tạo vườn tạp được tốt thì người làm vườn cần phải có: hiểu biết về kiến thức chuyên môn của nghề làm vườn, cụ thể hơn là các 7 đối tượng cây ăn quả trồng và kinh doanh trong vườn; có thông tin kinh tế thị trường về cây ăn quả; nắm được chủ trương chính sách phát triển kinh tế của địa phương nói chung, nông nghiệp và cây ăn quả nói riêng. Đồng thời, phải có một nguồn lực về tài chính nhất định để đầu tư và cải tạo vườn tạp.
Nội dung tổ chức thực hiện Đề án cải tạo vườn tạp 1. Công tác tuyên truyền phổ biến về chính sách cải tạo vườn tạp Tập trung tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của việc cải tạo vườn tạp nhằm thay đổi nhận thức, tư duy sản xuất lâu đời của người dân; góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ trong công tác làm vườn của người dân thông qua nhiều kênh như: Đài Truyền thanh - truyền hình, báo chí, hệ thống loa đài thôn/xóm, các buổi họp thôn… Mỗi cán bộ, đảng viên, hội viên, đoàn viên thanh niên, hộ tham gia đề án là một nhân tố quan trọng và gương mẫu nòng cốt, trong công tác tuyên truyền phổ biến, vận động, tích cực hưởng ứng, tham gia trong phong trào cải tạo vườn tạp mà trước mắt là thực hiện việc cải tạo từ vườn tạp của gia đình mình. Phát huy tối đa hiệu quả hoạt động các chi hội như: Hội nông dân, Phụ nữ, Đoàn thanh niên, câu lạc bộ khuyến nông, hội làm vườn,… trong việc xây dựng kế hoạch, phương pháp thực hiện, tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia cải tạo vườn tạp như: gây quỹ cho hội viên vay làm vốn, tự tổ chức tham quan học tập giữa các hộ,… Gắn việc cải tạo vườn tạp vào các tiêu chí thi đua tại các xã trong việc chỉnh trang nhà cửa, chuồng trại… trong phong trào xây dựng nông thôn mới; tạo nên sự phát triển mạnh mẽ phong trào cải tạo vườn tạp lâu nay chưa được quan tâm chú ý. Nêu gương các điển hình tiến tiến trong địa phương cũng như tại các nơi khác trong việc thực hiện cải tạo vườn tạp giúp người dân nắm bắt thông 8 tin và tham quan học hỏi kinh nghiệm.
Công tác quy hoạch cải tạo vườn tạp Tổ chức rà soát đánh giá hiện trạng đất sản xuất của từng vườn hộ, từng tuyến đường để tổ chức triển khai quy hoạch theo định hướng. Loại bỏ các yếu tố không thích hợp với quy hoạch thiết kế xác định loại cây không phù hợp các yếu tố ảnh hưởng đến vườn cây sau này. Loại bỏ những cây hoang dại, cây leo bụi rậm trong vườn chiếm chỗ, không có giá trị. Tiến hành đốn tỉa tạo hình và cắt tỉa cho cây, cần giũ lại với mục cải tạo hoặc phục trang theo định hướng đặt ra.
Trồng bổ sung cây mới vào vị trí cần thiết và hợp lý trong vườn. Phát dọn thu gom giải phóng mặt bằng cây leo bụi rậm, xử lý thực bị trước khi trồng hàng rào cây xanh và chỉnh trang vườn hộ. Việc bố trí giống cây trồng phải lựa chọn phù hợp với đất đai thổ nhưỡng của từng vườn, từng vùng đất, gieo trồng phải đúng thờ gian theo mùa vụ để tránh nắng hạn, kể cả trồng hàng rào cây xanh. Các chính sách hỗ trợ người dân khi tham gia cải tạo vườn tạp Theo đó, việc hỗ trợ về kỹ thuật cho người dân khi tham gia cải tạo vườn tạp là rất quan trọng.
Bởi, cùng với việc sử dụng giống tốt, sạch bệnh, cần chú trọng tới biện pháp canh tác, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh phù hợp với từng giống cây từ khâu làm đất, đào hố, mật độ trồng đến việc bón phân, tưới nước, tỉa cành tạo tán, bảo vệ thực vật, trồng xen, trồng gối, thu hoạch và bảo quản. Ở các nước phát triển khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thủy lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu mới đối với việc tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một bảo đảm vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Cho đến giữa 9 thế kỷ XXI, trong nông nghiệp nước ta, quy trình kỹ thuật có thể đóng góp 30% vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế.
Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện đề án cải tạo vườn tạp 1. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên Nhân tố tự nhiên trước hết là điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình thổ nhưỡng, thủy văn… là những yếu tố quyết định đến lựa chọn cây trồng, thiết kế đồng ruộng, định hướng đầu tư thâm canh. Đặc điểm tự nhiên đó của đất nông nghiệp cũng chi phối tình hình kinh tế của quá trình sử dụng, khi cùng trình độ khai thác đầu tư nhưng kết quả và hiệu quả kinh tế cũng khác nhau.
Rõ ràng, các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tổ chức các phương thức sử dụng và nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp. Vì thế, trong thực tiễn sử dụng đất cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế của vùng nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường. Các chính sách và quy định của Nhà nước Trong những năm qua, Nhà nước đã có các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp đối với nhóm hộ Đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS), bao gồm: chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp; chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo từng giai đoạn. Những yếu tố này đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và cải tạo vườn tạp nói riêng của các địa phương.
Khó khăn lớn nhất làm hạn chế đến khả năng phát triển sản xuất nông nghiệp của nhóm này là do hạn chế về các yếu tố nguồn lực bao gồm đất đai, vốn, năng lực của 10 chủ thể sản xuất và lao động. Do xuất phát điểm trong nông nghiệp, nông thôn thấp, lại hạn chế về các yếu tố nguồn lực của chủ thể sản xuất nên chưa tiếp cận được các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp của Trung ương và tỉnh.