Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài. Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư phát triển công nghiệp. Chương 3: Thực trạng đầu tư phát triển công nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 2007 – 2012. Chương 4: Một số giải pháp đẩy mạnh đầu tư phát triển công nghiệp tỉnh Hà Nam trong thời gian tới.
CHƢƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Trong chương này, trước tiên đề cập đến những vấn đề lý luận chung về ngành công nghiệp là khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của ngành công nghiệp trong nền kinh tế. Trên cơ sở những nội dung khái quát về ngành công nghiệp, chương cũng sẽ đề cập đến đặc điểm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp. * Đầu tư phát triển công nghiệp là một trong những hoạt động đầu tư phát triển khi xét trên quan điểm phân công lao động xã hội chính là đầu tư theo ngành. Vì thế, đầu tư phát triển công nghiệp mang đầy đủ nội dung và tính chất của hoạt động đầu tư phát triển.
Thực chất của đầu tư phát triển công nghiệp là khoản đầu tư phát triển để tái sản xuất mở rộng ngành công nghiệp nhằm góp phần tăng cường cơ sở vật chất và phát triển công nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. * Đặc điểm của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp: Hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp có đầy đủ các đặc điểm của đầu tư phát triển nói chung. Nhưng do đặc trưng của ngành công nghiệp, nên đầu tư phát triển công nghiệp có những đặc điểm nổi bật sau: - Quy mô vốn lớn, vốn cố định chiếm tỷ trọng lớn. - Quá trình thực hiện đầu tư kéo dài, thời gian thu hồi vốn chậm.
- Các tài sản cố định trong công nghiệp hao mòn vô hình ngày càng lớn. * Nội dung của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp: iii - Đầu tư phát triển công nghiệp theo hình thức tổ chức công nghiệp: Đầu tư phát triển các khu công nghiệp, đầu tư phát triển các cụm công nghiệp và làng nghề. - Đầu tư phát triển công nghiệp theo nội dung gồm: Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xây lắp, mua sắm máy móc trong ngành công nghiệp; Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ (R&D); Đầu tư phát triển nguồn nhân lực; Đầu tư cho hoạt động khác như đầu tư cho công tác khuyến công, đầu tư cho hoạt động xúc tiến đầu tư, quảng cáo, xây dựng thương hiệu… - Đầu tư phát triển công nghiệp theo nhóm ngành: Đầu tư phát triển công nghiệp theo nhóm ngành công nghiệp là hoạt động đầu tư phát triển của các nhóm ngành: công nghiệp khai thác; công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. Tiếp theo, luận văn làm rõ hơn về hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp trong phạm vi tỉnh như đặc điểm, vai trò và các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của đầu tư phát triển công nghiệp.
Với những đặc điểm và nội dung như vậy thì hoạt động đầu tư phát triển ngành công nghiệp sẽ bị ảnh hưởng bởi các nhân tố sau: - Tiềm năng và nguồn lực cho phát triển công nghiệp - Hệ thống luật pháp và chính sách - Nhân tố tiến bộ khoa học công nghệ - Công tác khuyến công và xúc tiến đầu tư Cuối cùng, với những bài học rút ra từ hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp của Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và của các tỉnh khác cùng với những chính sách phù hợp kết hợp với những lợi thế của tỉnh, Hà Nam sẽ có những định hướng cho đầu tư phát triển công nghiệp một cách ổn định, bền vững trong thời gian tới. CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH HÀ NAM GIAI ĐOẠN 2007 – 2012 Trước tiên, luận văn tìm hiểu về khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam. Tiếp theo, luận văn đi tìm hiểu tình hình đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh dựa trên các nội dung là: - Quy mô vốn và tỷ trọng vốn đầu tư. iv - Nguồn vốn đầu tư phát triển công nghiệp.
- Đầu tư phát triển công nghiệp phân theo nhóm ngành công nghiệp. - Đầu tư phát triển công nghiệp theo hình thức tổ chức công nghiệp. - Tình hình đầu tư phát triển công nghiệp theo nội dung. Sau khi đã phân tích thực trạng tình hình đầu tư, luận văn đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp của tỉnh.
- Kết quả ĐTPT công nghiệp. + Tài sản cố định huy động: qua tính toán cho thấy cùng với sự gia tăng của TSCĐ huy động của tỉnh có sự đóng góp rất lớn của ngành công nghiệp. Trong giai đoạn này giá trị TSCĐ huy động của ngành công nghiệp chiếm đến 64,6% giá trị huy động TSCĐ toàn tỉnh. Năm 2007 TSCĐ huy động của ngành công nghiệp là 953,6 tỷ đồng.
Đến năm 2012 TSCĐ huy động của ngành công nghiệp là 1.813,5 tỷ đồng tăng gấp 1,9 lần năm 2007, trong đó công nghiệp khai thác là 105 tỷ đồng chiếm 5,8% và tăng gấp 5 lần năm 2007; công nghiệp chế biến là 1.705,3 tỷ đồng chiếm 94% và gấp 1,83 lần năm 2007; công nghiệp điện nước là 3,2 tỷ đồng chiếm 0,2% và gấp 3,2 lần năm 2007. + Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm: năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất phục vụ của các TSCĐ đã được huy động vào sử dụng để sản xuất ra sản phẩm hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ. Vốn đầu tư phát triển công nghiệp Hà Nam không ngừng tăng nhanh qua các năm, cùng với TSCĐ huy động cũng tăng nhanh kết quả là năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm của ngành công nghiệp Hà Nam cũng tăng. Nhiều mặt hàng công nghiệp quan trọng, có giá trị sản xuất cao đã không ngừng được cải thiện về chất lượng mà còn được nâng cao công suất sản xuất.
+ Nguồn nhân lực tỉnh ngày càng được nâng cao: giai đoạn 2007 – 2012 tỉnh đã dành một nguồn vốn đáng kể để tiến hành đầu tư phát triển nguồn nhân lực, kết quả mang lại cho tỉnh đó là số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được cải thiện hơn so với thời kỳ trước rất nhiều. - Hiệu quả hoạt động ĐTPT công nghiệp. + Hiệu quả kinh tế: Mức tăng giá trị sản xuất so với vốn đầu tư thực hiện trong k ỳ. Mức tăng tổng sản phẩm so với vốn đầu tư thực hiện trong kỳ.
v Mức tăng tổng sản phẩm so với TSCĐ huy động trong kỳ. Hệ số huy động TSCĐ Tỷ suất vốn đầu tư cho một đơn vị tổng sản phẩm gia tăng - Hệ số ICOR. Như vậy, có thể đánh giá chung là hiệu quả kinh tế của hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp ở tỉnh Hà Nam là chỉ đạt mức trung bình và hiệu quả không ổn định, chưa thật sự bền vững. + Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội thể hiện thông qua tạo việc làm cho người lao động.
Cùng với sự gia tăng của vốn đầu tư, trong giai đoạn 2007 – 2012 số cơ sở kinh tế trong lĩnh vực công nghiệp không ngừng gia tăng. Việc gia tăng số cơ sở kinh tế công nghiệp cũng đã làm tăng thêm số lao động làm việc trong các cơ sở kinh tế công nghiệp. Cuối cùng là những đánh giá về hoạt động ĐTPT công nghiệp tỉnh Hà Nam giai đoạn 2007 - 2012. - Những thành tựu đạt được.
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp bình quân hàng năm (theo giá cố định năm 1994) giai đoạn 2007 – 2012 đạt 16,3%, tổng sản phẩm công nghiệp năm 2007 là 1.427 tỷ đồng, đến năm 2012 GDP từ công nghiệp đã tăng 2.334,6 tỷ đồng đạt 3. Giá trị sản xuất công nghiệp hàng năm tăng rất cao. Cơ cấu công nghiệp chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp khai thác giảm dần, công nghiệp chế biến được nâng lên. Thứ hai, công nghiệp Hà Nam đang trong quá trình chuyển biến theo hướng CNH – HĐH.
Thứ ba, cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế có sự chuyển dịch nhanh theo chính sách đổi mới của nhà nước. Thứ tư, từ khi thực hiện chính sách khuyến công, ngoài việc góp phần tăng cường sức sản xuất, hiệu quả kinh tế, còn có tác động tích cực đến nhận thức của nhân dân, làm cho nhân dân hiểu rõ hơn về những chính sách khuyến khích phát triển CN – TTCN của Đảng và Nhà nước. Thứ năm, trong những năm qua vai trò của đầu tư phát triển KH & CN phục vụ công nghiệp ngày càng được thể hiện rõ nét, công tác nghiên cứu khoa học đã góp phần quan trọng vào việc giải đáp kịp thời những vấn đề lý luận và thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định các chủ trương chính sách của tỉnh vi trong phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng. Thứ sáu, đã hình thành các KCN, các CCN và các cụm CN – TTCN, cụm làng nghề.
Sự hình thành đã gắn liền với sự hình thành và phát triển đô thị các loại và có tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng xung quanh. - Những tồn tại, hạn chế: Một là, huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu về quy mô cũng như cơ cấu. Hai là, mất cân đối trong việc đầu tư theo cơ cấu nội bộ ngành. Ba là, công tác xúc tiến đầu tư vào công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hà Nam, nhất là đầu tư vào các KCN chưa tích cực chủ động.
Bốn là, nguồn nhân lực dồi dào, nhưng phần lớn chưa qua đào tạo và chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Năm là, về cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển công nghiệp. Sáu là, về hoạt động đầu tư cho khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp còn nhiều hạn chế. Bảy là, hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp chưa thực sự gắn với bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, thân thiện với môi trường.
Tám là, công tác quy hoạch CN - TTCN còn nhiều bất cập.