Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục nghề nghiệp và xuất khẩu lao động. - Chương 2: Thực trạng xuất khẩu lao động và đào tạo nghề ở tỉnh Đồng Tháp. - Chương 3: Đề xuất giải pháp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu xuất khẩu lao động của tỉnh Đồng Tháp. -4- Phần kết luận và kiến nghị: Tổng kết những nội dung đã thực hiện, đưa ra kiến nghị đối với các cấp và xác định hướng phát triển của đề tài.
-5- CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VÀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực (Human Resources) là một khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của các khoa học về quản lý, trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục … Theo PGS. Đỗ Minh Cương: “Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự …, chính là vấn đề nguồn lực con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể”.
[12,tr19] Tùy theo quy mô của các tổ chức khác nhau, vấn đề con người hay nguồn nhân lực ở các tổ chức vi mô (cơ quan, xí nghiệp …) thường nên gọi là nhân sự, ở các tổ chức vĩ mô (quốc gia, ngành kinh tế …) mới được gọi là nguồn nhân lực. Một cách khái quát, nguồn nhân lực có thể coi là tổng thể tiềm năng con người của một quốc gia (hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương), được chuẩn bị ở một mức độ nào đó để có thể tham gia vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong một thời kỳ nhất định. Nguồn nhân lực, theo nghĩa hẹp và có thể lượng hóa được, là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi quy định (nam: 16 – 60, nữ: 16 - 55), có khả năng lao động. Như vậy số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số.
Xét về chất, chất lượng nguồn nhân lực thể hiện một trạng thái nhất định của nguồn nhân lực. “Chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về cơ cấu lứa tuổi của dân số, trạng thái thể lực, trí lực, trình độ văn hóa, chuyên môn, đạo đức, hiểu biết xã hội …của đội ngũ nhân lực, trong đó trình độ học vấn là rất quan trọng vì đó là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi con người”. [13, tr5] Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng, cung cấp sức lao động để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Bên cạnh những nguồn lực khác như nguồn lực tài chính, tài nguyên …, nguồn lực con người muốn khai thác tốt là một vấn đề phức tạp mà không phải quốc gia nào cũng đã làm được.
Nhật Bản và Singapore là những quốc gia điển hình sử dụng tốt được nguồn nhân lực, nên dù rất nghèo tài nguyên thiên nhiên nhưng đã trở nên những quốc gia có kinh tế phát triển ở mức cao. Tập đoàn DEAWOO (Hàn Quốc) đã đưa ra triết lý: “Mọi tài nguyên đều có hạn, chỉ có sức sáng tạo của con người là vô hạn” để đề cao vai trò của nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với từng giai đọan phát triển kinh tế- xã hội( ở các cấp độ quốc gia, địa phương, ngành…) đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các lĩnh vực hoạt động lao động để tạo ra sự phát triển của xã hội. Liên hiệp quốc sử dụng khái niệm phát triển nguồn lực con người theo nghĩa rộng, nhấn mạnh đến mặt xã hội của nguồn nhân lực.
“Nó vừa là yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế, vừa là mục tiêu của phát triển và tăng trưởng kinh tế”.4] Về số lượng, dân số và cơ cấu dân số là cơ sở hình thành và tăng trưởng nguồn nhân lực. Theo các nhà dân số học thế giới, một cơ cấu dân số tối ưu sẽ là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế quốc gia. Cơ cấu dân số này phải có tỷ lệ thích hợp về số người trong độ tuổi lao động với số người quá tuổi và chưa đến tuổi lao động. Tháp cơ cấu dân số Người già: 10- 12% Người trong độ tuổi lao động: 60 – 64% Trẻ em: 26 – 28% Số liệu nghiên cứu thống kê và dự báo về chiến lược phát triển dân số của Việt Nam cho thấy cơ cấu dân số nước ta đang tiến dần đến cơ cấu lý tưởng, một yếu tố rất thuận lợi cho phát triển kinh tế.1: Kết quả dự báo qui mô và dân số đến năm 2010 [22, tr.19] Năm 2000 2005 2010 Tổng số dân( triệu người) 77,84 83,07 88,28 Dưới tuổi lao động( %) 33,11 29,24 26,36 Trong tuổi lao động( %) 58,03 62,1 64,67 Trên tuổi lao động( %) 8,86 8,67 8,97 Về chất lượng, chất lượng nguồn nhân lực có liên quan mật thiết đến giáo dục và đào tạo.
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như: thể lực( chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe), trí lực( trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp…), khả năng thích ứng, phẩm chất đạo đức, truyền thống văn hóa và lối sống… Các yếu tố này đều được trực tiếp hoặc gián tiếp hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục và đào tạo. Về vấn đề này theo PGS.TS Trần Khánh Đức: “Các yếu tố tác động đến phát triển nguồn nhân lực là:giáo dục, sức khỏe, việc làm và các nhân tố kinh tế xã hội. Các yếu tố này xâm nhập vào nhau, phụ thuộclẫn nhau, song giáo dục là cơ sở cho tất cả các yếu tố khác, là nhân tố thiết yếu để cải thiện sức khỏe và dinh dưỡng, để duy trì một môi trường có chất lượng cao, để mở rộng và cải thiện lao động, để duy trì sự đáp ứng yêu cầu về kinh tế-xã hội”.12] Ngày nay, chỉ số phát triển người HDI ( Human Development Index) cũng thường được dùng để thể hiện chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời cho thấy mức độ phát triển của quốc gia, vùng lãnh thổ. Chỉ số HDI được hợp thành từ ba chỉ số: [11, tr 56].
Chỉ số tuổi thọ. Chỉ số phát triển giáo dục. Chỉ số GDP đầu người/PPP. Cách tính mỗi chỉ số: Giá trị xi hiện có – giá trị xi cực tiểu Mỗi chỉ số= Giá trị xi cực đại – giá trị xi cực tiểu Chỉ số tuổi thọ + chỉ số phát triển giáo dục + chỉ số GDP đầu người/PPP Tổng quát HDI = 3 -8- 1.
Lao động qua đào tạo, lao động kỹ thuật: Lao động qua đào tạo( worker passed training) là thuật ngữ để chỉ lao động được đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, được cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo. Hiện nay thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi để phục vụ cho các công tác điều tra, nghiên cứu, báo cáo tổng kết…để phân biệt với lao động giản đơn hoặc lao động trong những nghề không qua đào tạo. Lao động qua đào tạo được dùng với hàm ý chất lượng lao động thường cao hơn lao động giản đơn. Lao động kỹ thuật là lao động có tính chất lành nghề, là người lao động có phương pháp, cách thức làm việc bằng những kỹ năng có được của mình để đạt hiệu quả cao trong công việc.
Những kỹ năng này được tích lũy trong quá trình đào tạo, huấn luyện, thực hành và qua kinh nghiệm thực tế sản xuất. Trong hội thảo “ Một số thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực dạy nghề”, theo PGS.TS Trần Xuân Cầu: “Thuật ngữ lao động kỹ thuật gần với lao động lành nghề, có kỹ năng ( skilled worker). Lao động kỹ thuật là một bộ phận quan trọng trong lao động qua đào tạo. Khái niệm lao động qua đào tạo rộng hơn khái niệm lao động kỹ thuật.
Lao động kỹ thuật không chỉ đòi hỏi bằng cấp mà còn đòi hỏi năng lực thực tế vận dụng các kiến thức đã được đào tạo. Vì thế, không phải mọi lao động qua đào tạo là lao động kỹ thuật, nhưng mọi lao động kỹ thuật phải qua đào tạo để có đủ trình độ kỹ thuật thích hợp với công việc”. Trong phạm vi của đề tài, với mục tiêu nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực, thuật ngữ lao động qua đào tạo được xác định phải hội đủ hai điều kiện: phải qua đào tạo ở hệ thống giáo dục quốc dân, phải được cấp bằng hoặc chứng chỉ nghề. Đào tạo nghề, giáo dục nghề nghiệp: Đào tạo nghề: là quá trình tổ chức dạy và học nhằm truyền đạt một khối lượng kiến thức, kỹ năng, thái độ về một nghề nghiệp cụ thể nào đó để người học có thể sử dụng trong quá trình lao động theo sự phân công lao động xã hội.
Theo Từ điển Tiếng Việt( Nxb KHXH, 1994): “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động trong xã hội. Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và phục vụ xã hội”. Như vậy, nghề nghiệp vừa giúp cho người lao động kiếm sống, vừa thể hiện sự đóng góp của cá nhân cho cộng đồng xã hội. Trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay, do sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học, công nghệ, nhiều nghề trở nên lạc hậu, bị mai một, nhiều nghề mới phát sinh và phát triển, vì vậy đào tạo nghề trở thành một nhu cầu quan trọng, thường xuyên trong mọi xã hội.
Giáo dục nghề nghiệp: hiện nay, giáo dục nghề nghiệp được hiểu theo nhiều cách khác nhau [21,tr.5]: Theo UNESCO (Cơ quan Văn hóa giáo dục Liên hiệp quốc) gọi khái niệm giáo dục nghề nghiệp là Vocational and Technical Education (VOCTECH) trên cơ sở quan niệm đào tạo người lao động toàn diện, đảm bảo người học có kiến -9- thức hệ thống và vững chắc, có kỹ năng cơ bản diện rộng, trên cơ sở đó tạo khả năng thích ứng cao với những biến đổi kỹ thuật và công nghệ. Theo ILO (Tổ chức lao động quốc tế) quan niệm giáo dục nghề nghiệp là Vocational Training: đào tạo nghề chủ yếu là hình thành kỹ năng đáp ứng thiết thực theo từng vị trí lao động cụ thể để cung cấp lao động kỹ thuật theo yêu cầu người sử dụng lao động mà không đặt nặng tính toàn diện. Trong phạm vi của luận văn này, thuật ngữ giáo dục nghề nghiệp được cụ thể hóa theo Luật giáo dục Việt Nam-2005. Điều 32-luật giáo dục quy định giáo dục nghề nghiệp bao gồm: 1.