CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THEO XU HƯỚNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các kết quả Nghiên cứu của nước ngoài Các nghiên cứu của nước ngoài về vấn đề lao động qua đào tạo nghề được nhìn nhận trên nhiề u giác độ và tên gọi khác nhau. Chủ yếu các Nghiên cứu có liên quan đến vấn đề này đề cập đến việc cải cách hệ thống đào tạo nghề. Điển hình một trong những công trình đó là tác phẩm của Ngân Hàng Thế giới có tên gọi: "Cải cách Giáo dục và đào tạo nghề", công trình đề cập rất nhiều kinh nghiệm của các nước phân ra làm các khối khác nhau như các nước chậm phát triển, các nước phát triển và các nước đang chuyển đổi.
Trong đó vấn đề cốt lõi được giải quyết là làm thế nào để cải cách hệ thống giáo dục nghề nghiệp hiện nay phù hợp với thị trường lao động. Mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế có những điều kiện cụ thể khác nhau nên có những bài học khác nhau về cải cách hệ thống dạy nghề. Trong đó công trình cũng có đề cập đến những chính sách, mô hình khác nhau của các nền kinh tế trong giải quyết mối quan hệ giữa đào tạo và thị trường lao động, vấn đề việc làm cho đối tượng đầu ra của hệ thống đào tạo trong tương quan với hoạt động kinh tế. Một ấn phẩm được coi là có nhiều liên quan đến các vấn đề việc làm của lao động kỹ thuật nghề nghiệp của Ngân hàng phát triển Châu á (ADB): "Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề" xuất bản năm 1990, về các vấn đề đào tạo nghề cho người lao động, kinh nghiệm của các nước.
Trong ấn phẩm này nội dung chủ yếu đi sâu vào các chức năng, đặc điểm của hệ thống dạy nghề, các chính sách của các quốc gia 19 trong việc đào tạo nghề. Ngoài ra có đi sâu vào việc đào tạo nghề đáp ứng các nhu cầu của các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế. Đặc điểm cơ bản của nội dung ấn phẩm này khác với các ấn phẩm khác là đi sâu vào phân tích kết cấu hệ thống giáo dục và dạy nghề với kinh nghiệm của nhiều nước có mô hình đào tạo nghề khác nhau. Nghiên cứu của nước ngoài còn rất nhiều ấn phẩm và công trình khác đề cập đến những tính toán hiệu quả cá nhân thu được từ việc đi học và tìm việc làm đối với đối tượng theo học các chương trình giáo dục kỹ thuật và dạy nghề.
Đồng thời có những nghiên cứu sâu liên quan đến cơ hội việc làm cho lao động và phân tích lựa chọn cơ hội học nghề cho người học. Tuy nhiên đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về việc kế t nố i viê ̣c làm cho lao đô ̣ng nông thôn đã qua đào tạo nghề.2 Một số nghiên cứu trong nước Một số nghiên cứu trong nước có liên quan trực tiếp đến vấn đề lao động kỹ thuật đó là nghiên cứu của PGS. Đỗ Minh Cương có tựa đề: “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam- Lý luận và thực tiễn”. Nghiên cứu này đã đi sâu vào phân tích lực lượng lao động kỹ thuật nói chung trong đó có đề cập sâu đến hệ thống đào tạo nghề hiện nay và sản phẩm, kết quả của quá trình đào tạo.
Nghiên cứu này tập trung vào khía cạnh cung lao động kỹ thuật trong nền kinh tế và các giải pháp chủ yếu để phát triển đào tạo nghề thúc đẩy cung lao động kỹ thuật cho nền kinh tế, trong đó đã đề cập đến việc làm như kết quả của quá trình đào tạo nhưng không tập trung vào LĐĐTN mà toàn bộ nhóm lao động kỹ thuật. Nghiên cứu thứ hai có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu trên đó là đề tài KX-05-10 do GS. Nguyễn Minh Đường làm chủ nhiệm: "Thực trạng và giải pháp đào tạo lao động kỹ thuật (Từ sơ cấp đến trên đại học) đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế". Đối tượng nghiên cứu của đề tài này tập trung vào nhóm lao động kỹ thuật và nội dung cơ bản đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và năng lực đào tạo 20 của các cơ sở đào tạo, các chính sách đào tạo lao động kỹ thuật và những vấn đề kỹ thuật của hoạt động đào tạo (nội dung đào tạo, cơ sở vật chất, chương trình, giáo trình, giáo viên v.
Nghiên cứu này cũng đã đề cập đến thực trạng lực lượng lao động kỹ thuật đáp ứng nhu cầu cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng không giải quyết các vấn đề liên quan đến việc làm. Nghiên cứu khác có liên quan đó là Luận án Tiến sỹ của TS. Phan Chính Thức với đề tài: "Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Công trình này đề cập đến hệ thống đào tạo nghề trên giác độ hệ thống cung ứng nhân lực lao động qua đào tạo nghề cho nền kinh tế và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và các vấn đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt nam.
Một số giải pháp mà công trình này đưa ra tập trung vào phát triển hệ thống dạy nghề đáp ứng nhu cầu CNH-HĐH đất nước. Một ấn phẩm khác đề cập đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực lao động tốt nghiệp đại học của tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị Doan , trong đó đề cập nhiều đến các vấn đề hệ thống đào tạo đại học hiện nay và các vấn đề về chính sách và hoạt động đào tạo đại học nhằm phát triển đội ngũ lao động trí thức phụcvụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Một công trình trực tiếp giải quyết vấn đề việc làm đó là:"Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt nam" của tác giả Nguyễn Hữu Dũng. Nghiên cứu này đi sâu và phân tích toàn diện các chính sách giải quyết việc làm trong nền kinh tế trong những năm cuối thế kỷ 20.
Tác giả đã trình bày phủ rộng hầu hết các vấn đề liên quan đến các chính sách giải quyết việc làm và đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm ở nước ta. Tuy nhiên công trình này không đề cập riêng cho việc làm của nhóm đối tượng lao động qua đào tạo nghề và các vấn đề liên quan đến nhóm đối tượng này. Ngoài ra có một số công trình nghiên cứu khác cũng gần gũi với chủ đề việc làm của lao động qua đào tạo nghề là công trình "Về xu hướng công nhân hóa ở 21 nước ta hiện nay" của tác giả Nguyễn An Ninh đặt ra và giải quyết các vấn đề phát triển mang tính giai cấp của đội ngũ công nhân công nghiệp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghiên cứu có đề cập đến số lượng, chất lượng, đào tạo, và sử dụng lao động là đội ngũ công nhân kỹ thuật nhưng chủ yếu trên giác độ phát triển và củng cố đội ngũ để giai cấp công nhân trở nên đội tiền phong vững mạnh.
Tóm la ̣i: Có thể khẳng định, cho đến thời điểm này chưa có công trình nào, gồm cả quốc tế và trong nước, đề cập cụ thể đến vấn đề việc làm của lao động qua đào tạo nghề. Những nghiên cứu đã có có thể hoặc là tập trung vào giải quyết vấn đề việc làm nói chung hoặc là giải quyết vấn đề đào tạo nghề. Sự khác biệt của nghiên cứu này với các nghiên cứu trước đây và đang có hiện nay ở hai đặc điểm chính: tiếp cận sâu về giải quyết việc làm của nhóm đối tượng lao động qua đào tạo nghề và nghiên cứu vấn đề việc làm như một kết quả đầu ra của đào tạo nghề.3 Hệ thống khái niệm liên quan đến đề tài 1.Khái niệm Nghề nghiệp Nghề hay nghiệp, định nghĩa: “Nghề: Công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”; còn “Nghề nghiệp là nghề nói chung” [3]. “Nghề là công việc hàng ngày làm để sinh nhai”, “Nghề nghiệp: là nghề làm để mưu sống” [4].
Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người [5]. Theo Nguyễn Văn Hộ, 2006: “Nghề nghiệp như là một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân”. 22 Từ một số quan niệm về nghề nghiệp nêu trên, có thể hiểu một cách ngắn gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người một quá trình đào tạo chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kĩ xảo chuyên môn nhất định, có phẩm chất, đạo đức phù hợp với yêu cầu của dạng lao động tương ứng.
Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩm thoả mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của cá nhân và xã hội. Khái niệm Nông thôn, nông dân - Nông thôn Theo tự điển tiếng Việt “Nông thôn Việt Nam là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp”. - Nông dân:“Là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu bằn đồng ruộng, vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất đai”.
Tóm lại, theo các khái niệm trên có thể hiểu lao động nông thôn bao gồm: những người lo động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc phu nông nghiệp. Khái niệm Lao động nông thôn Hiện nay chưa có định nghĩa chính thức về lao động nông thôn tuy nhiên trên cơ sở khái niệm về nông thôn, nông nghiệp và lao động, có thể hiểu lao động nông thôn bao gồm những người lao động cư trú ở nông thôn có tham gia sản xuất nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp. Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo nghề là bộ phận của hệ thống giáo dục-đào tạo. Đào tạo nghề còn được gọi là dạy nghề.