Chương I : Vai trò của quỹ Dự trữ lương thực trong chương trình an toàn lương thực quốc gia. Chương II : Thực trạng về tổ chức, quản lý và sử dụng quỹ Dự trữ lương thực Quốc gia ở chi cục dự trữ trên địa bàn Hà Bắc. Chương III : Nhũng giải pháp chủ yếu để đảm bảo quỹ Dự trữ lương thực để tham gia vào chương trình an toàn lương thực Quốc gia ở chi cục dự trữ trên địa bàn Hà Bắc. 5 CHƯƠNG MỘT VAI TRÒ CỦA QUỶ D ự TRỮ LƯƠNG THỰC TRONG CHƯƠNG TRÌNH AN TOÀN LƯƠNG THỰC Q uốc GIA.
A/NHẬN THỨC CHUNG VỀ AN TOÀN LƯƠNG THỰC QUỐC GIA. I- KHÁI NIỆM VỀ AN TOÀN LƯƠNG THỰC QUỐC GIA ở VIỆT NAM: Vấn đề đủ lương thực cho mọi người tiêu dùng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm rất lớn. Ngay sau khi thành lập nước 02 / 9 / 1945 Bác Hồ đã phát động phong trào tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm chống giặc đói. Những năm gần đây, dưới ánh sáng của các nghị quyết Đại hội Đảng VI, Nhà nước đề ra 3 chương trình lớn, trong đó có chương trình lương thực, thực phẩm đứng hàng đầu.
Trong thời gian dài, với tư duy bao cấp, hành chính quan liêu mệnh lệnh chúng ta đã suy nghĩ rằng cố gắng sản xuất đủ yêu cầu lươns thực tiêu dùng cho xã hội thì đã có vấn đề an toàn lương thực Quốc gia. Vì vậy mọi nỗ lực tập trung vào sán xuất bằng được số lương thực cần thiết, bất chấp đến điều kiện và hiệu quả kinh tế. Tư tưởng này đã ăn sâu vào mọi ngành, mọi cấp từ Trung ương đến địa phương và duy trì trong một thời gian quá dài. Nguồn gốc sâu xa của vấn đề này chúng ta cũng dễ hiểu, ngoài sự non kém về tư duy kinh tế mới nó cũng là kết quả tất yếu của quá trình sản xuất lương thực không đủ đáp úng yêu cầu của toàn xã hội.
Những năm trước đây Nhà nước phải nhập một khối lượng lớn lương thực để trang trải yêu cầu tối thiểu trong nước. Từ năm 1989 đến nay, sản xuất lương thực là không những đủ tiêu dùng mà còn có dự trữ và xuất khẩu. Do tập trung sản xuất và các chính sách phù hợp đế bảo đảm an toàn lương thực và coi đó là biện pháp cơ bản cho nên khi sản 6 iượng lương thực tăng vượt mức bình quân 300kg/đầu người thì có quan điểm cho rằng vấn đề an toàn lương thực ở Việt nam đã được giải quyết. Đó là nhận thức sai lầm, xem xét vấn đề an toàn lương thực không toàn diện và thiếu cơ sở khoa học.
Lương thực ở đây không phải chỉ có lúa, mà bao gồm cả ngô, sắn, khoai và chất bột khác, cũng như các loại thực phẩm, như : cá, thịt, sữa, các dồ uống. Mặt khác không phải chỉ quan tâm đến số lượng mà cần quan tâm đến chất lượng, thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của nhân dân. Không những thế, an toàn lương thực liên quan chặt chẽ không chỉ bình quân đầu người về khối lượng sản phẩm, mà còn khả năng cung cấp điều hòa giữa các vùng nhất là vùng dân tộc, vùng sâu, vùng xa và điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, để thỏa mãn được như cầu lương thực, thực phẩm cho gia đình họ. Trong thực tế đã có nghịch lý xẩy ra: Chúng ta sản xuất đủ gạo cho mọi người trong xã hội tiêu dùng thậm chí còn xuất khẩu với khối lượng lớn.
Song một bộ phận dân cư không nhỏ vẫn thiếu ăn thường xuvèn đặc biệt đối với thời gian giáp hạt, đối với vùng bị thiên tai. vùng sâu, vùng xa và tầng lớp dân nghèo. Sự mất an toàn trong khi sản xuất dư thừa cũng đã xảy ra liên tiếp trong những năm gần đây. Giá lương thực xuống thấp, thu nhập của người nông dân giảm, niềm say mê về kinh tế trong sản xuất lúa của người nông dân không còn nữa và hậu quả sẽ là tiền đề cho sự mất an toàn do thiếu lương thực có thể xảy ra.
Tình hình đó đòi hỏi khái niệm vè an toàn lương thực quốc gia cũng cần được bổ sung, hoàn chỉnh rộng và toàn diện hon để có thể chứa đựng đầy đủ ý nghĩa kinh tế - xã hội của nó. Tùy theo điều kiện của từng nước khái niệm trên được hiểu như thế nào cho phù hợp với đặc điếm kinh tế - xã hội của nước mình. Đối với hoàn cảnh Việt nam khái niệm an toàn lương thực quốc gia phải được hiểu là sự đảm bảo không chi tính sẵn có và tính ổn định trong việc cung cấp lương thực, mà còn tạo 7 điều kiện cho tất cả mọi người có khả năng mua, tiếp cận được đối với lương thực. Bao gổm : Tự sản xuất lương thực, thực phẩm hoặc sản xuất sản phẩm khác để trao đổi (hoặc xuất khẩu) lấy lương thực, thực phẩm, bảo đảm có đủ số lượng và chất lượng cần thiết đáp ứng yêu cầu của dân cư trong nước.
Đấy là yêu cầu quan trọng nhất để thực hiện yêu cầu an tòan lương thực ở mỗi quốc gia. Tính ổn đinh: Do điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, địa bàn sản xuất và tiêu dùng khác nhau, hơn nữa trong điều kiện kinh tế thị trường, một thị trường thông nhất cả nước, theo quan hệ cung cầu và sự chi phối của qui luật giá trị đòi hỏi phải có một phương án giải quyết các khâu lưu thông, vận chuyển, bảo quan chế biến. tốt nhất trên cơ sở quan điểm lcâu dài toàn diện và kinh tế, luôn luòn đáp ứng yêu cẩu về lương thực co mọi người dân ở mọi lúc, mọi nơi. Nói cách khác là đảm bảo cho lương thực, thực phẩm được lưu thông suốt từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng thường xuyên, ổn định.
Tính tiếp cận: Mặc dù có sẵn lương thực, thực phẩm, có tổ chức lưu thông ổn đinh, nhưng chưa đủ để đảm bẩo lương thực cho mọi người, ở mọi thời điểm. Để mọi người thuộc mọi nhóm dân cư khác nhau có lương thực sử dụng bắt buộc họ phải có khả năng kinh tế để thực hiện vấn đề đó. Chính vì lẽ đó cần phải có những giải pháp hữu hiệu cả tầm vĩ mô và vi mỏ trong việc giải quyết còng ăn việc làm, tăng thu nhập, tạo điều kiện kinh tế cho mọi người dân có thế mua, tiếp cận được với lương thực. 8 Với khái niệm và nhận thức trên chúng ta đều biết rằng ở v iệ t nam cần thiết phải xây dựng chuơng trình an toàn lương thực Quốc gia một cách đồng bộ hoàn chỉnh với đầy đủ những nội dung của nó và bước đi phù hợp bởi vì : *■- Sản xuất lương thực ở nước ta còn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, ảnh hương của thời tiết và khí hậu gần như rủi ro cho sản xuất.
- Kết quả sản xuất lương thực bình quân năm 1996 xấp xỉ 400kg/đầu người. Nhung vẫn có vùng bình quân còn quá thấp (250kg/đầu người). Sự chênh lệch trong sản xuất lương thực đòi hỏi phải có các biện pháp khác nhau về sản xuất, lưu thông, đời sống và thu nhập để đảm bảo mục tiêu an toàn lương thực Quốc gia. II- Ý NGHĨA CỦA LƯƠNG THỰC VÀ AN TOÀN LƯƠNG THỰC QUỐC GIA.
1 Vai tr ò aia lư ơ n g th ự c : Lương thực theo quan niệm của các tổ chức quốc tế bao gồm cả thực phắm. Nhung do điều kiện hoàn cảnh của Việt nam cho nên trước hết chúng ta tập trung vào vấn đề giải quyết cái ăn về chất bột. Sau đó đáp úng nhu cầu về thực phẩm. Như vậy lương thực là mặt hàng thiết yếu của nhân dân nó chiếm 50% trong chỉ tiêu ăn uống hàng ngày của mọi gia đình trong xã hội.
Theo thống kê nhũng năm qua mức tiêu dùng lương thực bình quân là 240k<r quy thoc/năm/người (tương đương 13 kg gạo/tháng). Nhu cầu ăn hàng năm thường chiêm 70-80% sản lượng lương thực sản xuất và có vai trò quan trọng tronc việc đảm bảo các yếu tô dinh dưỡng cho con người. Ngoài ra, lương thực còn để phát triển chăn nuôi phát triển, chế biến c ô n ơ nghiẹp va phat tnên các ngành nghề khác trong các tầng lớp dân cư. 9 Lương thực không chỉ là nhu cầu thiết yếu của nhân dân, mà nó còn giữ vị trí hàng đầu trong việc tạo công ăn việc làm, ổn định thu nhập và góp phần xuất khẩu thu ngoại tệ mạnh cho đất nước.
Như chúng ta đã biết ở Việt nam hơn 70% dân số sống ở nông thôn với nghề truyền thống là trổng cây lương thực. Sản xuất lương thực hiện vẫn đang thu hút một bộ phận lao động trong nồng nghiệp và vẫn còn là nguồn thu nhập chính của nông dân Việt nam. Từ năm 1989 trở lại đây sản xuất lương thực đã có thành tựu đáng kể. Không những đã thỏa mãn yêu cầu tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu với khối lượng lớn hàng năm.
Kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản. Là mặt hàng xuất khẩu đúng thứ hai sau dầu thô đã góp phần đáng kể vào việc tạo thêm nguồn lực phát triển của đất nước. IL 2 Ý n g h ĩa c ủ a v iệc đ íím b ả o a n to à n lư ơ n g th ự c Q u ố c g ia. - Đảm báo cho mọi người dân, mọi lúc, mọi nơi, mọi thời điểm cho cuộc sống lành mạnh không bị suy dinh dưỡng do thiếu lương thực.
- Đảm bảo an toàn lương thực Quốc gia có ý nghĩa hàng đầu trong việc ổn định chính trị, xã hội để phát triển. Bác Hổ kính yêu trước đây đã có mong muốn tột bậc là:"Mọi người dân đủ cơm ăn, áo mặc, và được học hành". Trước hết la giải quyết vấn đề ăn trong xã hội như Anghen nói: "Con người ta trước hết phải có ăn rồi mới nghĩ đến chuyện chính trị, xã hội." - Đảm bảo an toàn lương thực Quốc gia là một động lực to lớn nhằm thúc đây toàn bộ nền kmh tế phát triển. Nhất là phát triển công nghiệp phải trên cơ sở nông nghiệp ổn định và phát triển, thúc đẩy được công nghiệp hóa, hiện đại hóa đât nước.
Nông nghiệp là thị trường to lớn của công nghièp. Khi ổn định cuộc sống, sức mua của khu vực này rất to lớn thu hút mạnh mẽ sự tăn trưởng kinh tế của đất nước. 10 - Đảm bảo an toàn lương thực Quốc gia tham gia trực tiếp đến các vấn đề xã hội. Nền kinh tế của đất nước ta đã chuyển dần theo cơ chế thị trường, những nhược điểm của cơ chế thị trường được bộc ỉộ rõ.