CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN VÀ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Quá trình hình thành và phát triển của NHTM Lịch sử của NHTM là lịch sử kinh doanh tiền gửi. Từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ quỹ bảo quản tiền cho chủ sở hữu để nhận thù lao trở thành những chủ thể kinh doanh tiền gửi, tức là trả lãi cho các khoản tiền gửi và dùng khoản tiền gửi đó cho vay lại với lãi suất cao hơn để thu lợi Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, theo một số chuyên gia kinh tế, có thể chia quá trình phát triển của NHTM theo ba giai đoạn chủ yếu sau: * Giai đoạn 1: Từ thế kỷ 15 đến cuối thế kỷ 18 Trong giai đoạn này, các Ngân hàng hoạt động với quy mô nhỏ, độc lập với nhau, chưa tạo thành hệ thống thống nhất và đặc biệt là hoạt động chưa ổn định.
Mỗi Ngân hàng đều có những chức năng nghiệp vụ hoạt động giống nhau như: nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán chi trả, phát hành giấy bạc vào lưu thông và thực hiện các dịch vụ Ngân hàng khác (đổi tiền, chuyển tiền.) Trong thời gian này, người vay tiền nhiều nhất là các lãnh chúa. Khi không thu được tiền thuế của dân, họ sẽ dùng quyền lực để không trả nợ cho Ngân hàng. Cũng trong thời kỳ này, các hội tín dụng nhỏ do các nhà tư bản nông công thương nghiệp đã hình thành tại Italia, Hà Lan, Đức. với mục đích cho nhau vay với lãi suất thấp hơn lãi suất Ngân hàng.
Mãi đến năm 1964 mới xuất hiện Ngân hàng tư bản lớn nhất thế giới đó là Ngân hàng Anh - một công ty cổ phấn lớn ở Lon don kinh doanh tín dụng tư bản với lãi suất vừa phải làm cho các Ngân hàng cho vay nặng lãi thời trung cổ buộc phải hạ lãi suất và chuyển sang kinh doanh như các Ngân hàng tư bản. 5 * Giai đoạn 2: Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20 Trong giai đoạn này, Nhà nước ban hành các đạo luật hạn chế số lượng các Ngân hàng được phép phát hành tiền vào lưu thông. Sang thế kỷ 18, 19, ở các nước công nghiệp Châu âu, việc phát hành tiền vào lưu thông được giao cho một số Ngân hàng lớn. Đến cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Nhà nước ban hành đạo luật cho phép một Ngân hàng duy nhất - tiền đề của NHTW sau này - được phép phát hành giấy bạc.
Các Ngân hàng còn lại cùng với quá trình phát triển trở thành NHTM. Giai đoạn này cũng đánh dấu sự đỗ vỡ của nhiều Ngân hàng tư nhân và sự ra đời của các Ngân hàng cổ phần với quy mô và phạm vi hoạt động rộng lớn. Số lượng các Ngân hàng ít đi nhưng mỗi Ngân hàng lại có mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước. * Giai đoạn 3: Từ đầu thế kỷ 20 đến nay Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế hàng hoá, của công nghệ thông tin và sự đa dạng hoá các chức năng của các đối thủ cạnh tranh là các tổ chức tài chính phi Ngân hàng, các NHTM đã không ngừng đa dạng hoá và mở rộng phạm vi cung cấp các dịch vụ theo mô hình Ngân hàng đa năng hiện đại Chức năng Chức năng Chức năng Chức năng Bảo hiểm uỷ thác Tín dụng lập kế hoạch đầu tư Chức năng Môi giới Chøc n¨ng NH HIỆN ĐẠI thanh to¸n Chức năng NH Đầu tư và bảo lãnh Chức năng quản lý tiền mặt Chức năng tiết kiệm Biểu 1.
Chức năng cơ bản của NH hiện đại 6 1. Hoạt động cơ bản của NHTM trong nền kinh tế thị trường Đứng trên giác độ Bảng tổng kết tài sản, có thể thấy hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm ba mảng nghiệp vụ chủ yếu, đó là nghiệp vụ liên quan đến nguồn vốn, nghiệp vụ liên quan tài sản và các nghiệp vụ kinh doanh khác. Mảng nghiệp vụ liên quan đến nguồn vốn của NHTM Mảng nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, bao gồm các nghiệp vụ sau: * Nhận tiền gửi Đây là nghiệp vụ phản ánh các khoản tiền gửi từ các Doanh nghiệp vào NHTM để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản mà qua đó NHTM có thể tạo lập được vốn cho hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài ra, Ngân hàng còn nhận huy động các khoản tiền nhàn rỗi của các cá nhân hay hộ gia đình, gửi vào Ngân làng với mục đích hưởng lãi.
* Phát hành giấy tờ có giá Các NHTM sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính dài hạn (về mát thời gian), nhằm đảm bảo khả năng cho vay và đầu tư dài hạn của Ngân hàng cho nền kinh tế. Ngoài ra, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh của mình. * Đi vay Các NHTM tiến hành tạo vốn cho mình bằng việc đi vay các TCTD trên thị trường tiền tệ hay vay từ NHTW thông qua các hình thúc: vay tái chiết khấu hay vay có đảm bảo. nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM trong trường hợp không tự cân đối được nguồn vốn qua kênh, khai thác tại chỗ.
* Các nghiệp vụ huy động vốn khác Các NHTM còn có thể tiến hành tạo vốn cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. * Vốn tự có của NHTM 7 Đây là vốn thuộc sở hữu riêng có của NHTM. Trong thực tế khoản vốn này không ngừng được tăng lên nhờ kết quả hoạt động kinh doanh có lãi của bản thân Ngân hàng mang lại. Bộ phận vốn này đóng góp một phần đáng kể vào tổng nguồn vốn có thể sử dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Mảng nghiệp vụ liên quan đến tài sản của NHTM Đây là mảng nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn vào các mục đích nhằm đảm bảo an toàn cũng như tìm kiếm lợi nhuận của NHTW. Nội dung của mảng nghiệp vụ nào bao gồm: * Nghiệp vụ ngân quỹ Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do NHTM đề ra. * Nghiệp vụ cho vay Đây là nghiệp vụ tạo khả năng sinh lời chính trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Nghiệp vụ này bao gồm các khoản đầu tư sinh lời của NHTM thông qua việc cho vay ngắn hạn và trung, dài hạn đối với nền kinh tế.
* Nghiệp vụ đầu tư tài chính Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng vốn của mình và vốn huy động được thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường. * Nghiệp vụ sử dụng vốn khác Đó là việc đầu tư vào trụ sở và những trang thiết bị kỹ thuật phục vụ quá trình hoạt động của bản thân Ngân hàng. Các nghiệp vụ kinh doanh khác Ngoài nghiệp vụ cho vay và đầu tư tạo ra lợi nhuận, NHTM còn thực hiện các dịch vụ và hoạt động Ngân hàng khác như: dịch vụ kinh doanh ngoại hối, vàng bạc và kim khí; dịch vụ thanh toán; dịch vụ đại lý phát hành chứng khoán, dịch vụ uỷ thác, bảo quản vật có giá, nghiệp vụ bảo lãnh. Các hoạt động này đã góp phần 8 tạo thêm những khoản lợi nhuận không nhỏ cho Ngân hàng thông qua thu phí dịch vụ và hoa hồng.
Đối với dịch vụ phát hành chứng khoán, khi thực hiện dịch vụ này, NHTM đóng vai trò là người trung gian, thực hiện chức năng môi giới phát hành chứng khoán giữa một bên là người phát hành chứng khoán và một bên là nhà đầu tư * Dịch vụ uỷ thác Việc sở hữu tài sản và mong muốn ''an toàn, hiệu quả'' đã dẫn đến nhu cầu về các dịch vụ quản lý tài sản. Việc quản lý tài sản cho người khác được thực hiện dưới mọi hình thức và cách sắp xếp khác nhau đó là nghiệp vụ uỷ thác Nghiệp vụ uỷ thác chỉ tập trung tại các Ngân hàng lớn, có uy tín cao đồng thời có trụ sở ở các khu vực tập trung tài sản và tập trung dân cư. Có thể chia nghiệp vụ uỷ thác thành hai loại: nghiệp vụ uỷ thác đối với cá nhân và nghiệp vụ uỷ thác đối với Doanh nghiệp. Nghiệp vụ uỷ thác đối với cá nhân thường bao gồm: quản lý tài sản theo chúc thư, quản lý theo hợp đồng ký kết, xử lý và thực hiện hạch toán khoản uỷ thác.
Nghiệp vụ uỷ thác đối với Doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các mục đích trợ cấp hưu trí, phân chia lợi nhuận, chia tiền thưởng, cổ phần,. * Bảo quản vật có giá Bảo quản an toàn vật có giá là một trong những dịch vụ lâu đời nhất được NHTM thực hiện. Công việc bảo quản vật có giá được phân chia thành hai bộ phận khác nhau trong một Ngân hàng: két sắt bảo quản ký thác và bảo quản an toàn vật có giá. Két sắt bảo quản ký thác được lập ra để cho khách hàng thuê.
Bảo quản an toàn các giấy tờ có giá là việc Ngân hàng làm nhiệm vụ trông nom quản lý giấy tờ có giá và các chứng từ khác có liên quan, như là một đại lý với khách hàng. * Nghiệp vụ bảo lãnh Là nghiệp vụ mà Ngân hàng (bán bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. 9 Có thể nói, Nghiệp vụ Bảo lãnh Ngân hàng là một nghiệp vụ mới song đã và đang phát triển nhanh chóng, đa dạng, với nhiều hình thức như: Bảo lãnh vai vốn; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Bảo lãnh chất lượng sản phẩm, bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo) lãnh, đồng bảo lãnh. * Dịch vụ tư vấn Là việc Ngân hàng cung cấp cho khách hàng những lời khuyên tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về những lĩnh vực mà khách hàng yêu cầu.
CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM Quá trình tạo vốn của các NHTM được thực hiện dưới các hình thức sau: 1.