CHƯƠNG 1 TONG QUAN CHUNG VE DE SÔNG VÀ ON ĐỊNH DE SONG 1. Tổng quan về hệ thống đê sông 1. Tầng quan tình hình chung hệ thống đê sông trên thể giới Để sông là công trình phong là được xây dựng hai bên bờ sông, ngăn không cho nước lũ, nước triều gây ngập lụt vùng được tuyển đê bảo vệ. Nhiệm vụ của dé là bảo vệ đất dai, nha cửa và các cơ sở ha ting khác chồng lại ngập lụt.
‘Tuy nhiên, tùy theo đặc điểm của từng ving, dé có thể chồng lũ với tin suất xuất hiện cao nhưng cũng có dé chống lũ tần sut thấp, hoặc thâm chí cho lũ trăn. Trung Quốc là nơi có hệ thống dé điều phòng lũ sớm nhất trên thé giới tir thời Xuân Thu - Chiến Quốc khoảng thé ki thứ VIII trước công nguyên (TCN) - thé kỉ thứ II TCN) hai bờ sông Hoàng Hà con sông lớn thứ hai của Trung Quốc .đã được đắp 48, Từ thé kỉ I đến các thé ky sau đi có các hoạt động lớn nhằm tụ bổ dé điều và phòng lụt ở Hoàng Hà Nhié thống kê cho thé „ lũ lụt là thiên tai gây thiệt hai nl cho con người, số người chết do lũ lụt (thường do cả haithiên tai đến cùng lúc là bão và lũ lụÙ chiếm trên 60% số người chết do các thiên tai gây ra trên thể giới. Lịch sử Trung Quốc đã ghi lại trận lụt kinh hoảng làm vỡ để năm 1887 trên sông Hoàng Hà, đã làm trôi mắt 7 ngôi làng và làm 7 triệu người chết. Trận lụt năm 1931 trên sông Trường Giang số người bị chết 145.000 người, cuốn trôi 4 triệu ngôi nhà, 10 triệu người phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất, vùi lấp 5,5 triệu ha đất canh tác Trận lũ năm 1993 có lẽ là trận lũ lịch sử tệ hại nhất của nước Mỹ.
tháng mưa to mùa he, nước của 2 con sông Mississipi và sông Missouri dâng cao. làm tràn ngập qua nhiều tuyến đê bao, nhắn chìm hơn 80.000 km? đất, giết chết 50 người dân, làm 70.000 người mắt nhà cửa. Thiệt hại ước chừng 12 tỷ USD. Nhất là những năm gần đây do biển đổi khí hậu khiển lũ lụt trên thể giới ngày càng gia tăng cả về cường độ và tần xuất.
Trận lụt mùa hé năm 1998 trên sông Trường Giang, Trung Quốc gây, đoạn đê bị vỡ làm hơn 2,1 triệu đất gieo trồng bị nhắn chim, số người bị chết 3.000 người, ảnh hưởng đến cuộc sống 240 triệu người, và gây thiệt hại kinh tế ước tính 12,5 tỷ USD. La lụt ở Pakistan năm 2010 đây là trận lũ lụt lich sử ở nước này. Hơn 20 triệu người dân quốc gia Nam A này đã phải di đời vì mực nước dâng cao, hon 2.000 người thiệt mạng và khoảng 10 triệu người mắt nhà cửa. Tổng thiệt hại kinh tế của trận lụt lịch sử nảy vào khoảng 43 tỷ USD.
La lụt Thái Lan xảy ra trong mùa mưa năm 2011, đây là trận lụt lịch sử. tại Thái Lan trong vòng 50 năm qua. Bắt đầu từ cuối tháng bảy và tiếp tục trong. hơn hai tháng, lũ lụt đã làm hơn 700 người chết và mắt tích, hơn 223 triệu người bị ảnh hưởng.
Lũ lụt đã tran ngập khoảng 6 triệu ha đắt, hơn 300.000 ha trong đó đất nông nghiệp, trong 58 tỉnh, từ Chiang Mai ở miền Bắc đến các khu vực của. thi đô Bangkok nằm gần các nhánh của lưu vực sông Chao Phraya. Bảy khu công nghiệp lớn đã bị ngập sâu đến 3 mét và kéo dai khoảng 40 ngày. Ngân hàng thé giới (WB) đưa ra đánh giá với tng thiệt hại lên đến 43,3 tỷ đôla, tăng trưởng.
kinh tế của Thái Lan cũng sụt giảm từ 3,6% theo dự báo trước đó xuống 2. Dưới đây là một số hình ảnh ví dụ về thiệt hại do lũ lụt gây ra. "Hình 1-1: Lit lụt sông Rock River ở Mỹ Hình 1-2: Vỡ đê tại Thái Lan năm 2011 phá hủy cầu và đường quốc lộ năm 2011 Hinh 1-3: Lit tut tại miền bắc Thái Hình 1-4: Lit tut tại miễn trang Thái Lan năm 2011 Lan năm 2011 : Dé bờ trái sông Yodo ở __ Hình 1-6: Bờ đê kết hợp giao thông ở Osaka- Nhật Bản Hà Lan 1. Tong quan về dé sông ở Việt Nam Nước Việt Nam nằm trong ving nhiệt đới gió mùa Đông Nam A, chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu lục địa Trung dn từ phía Bắc và phía Tây với 2 hệ.
thống sông lớn liên quốc gia theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là sông Hang và sông Cửu Long, lại vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp khi hậu biển Đông từ phía Đông và phía Nam, nơi giao giữa hai biển lớn: Thái Bình Dương và Ấn Độ Duong, đồng thời nằm giữa 6 bão bién Đông là một trong 5 6 bao lớn nhất thé giới - Mùa bão ting với mia mưa, địa hình phức tạp, dng bằng thường hẹp và thấp trùng, núi cao sườn di „ cây rừng lại bị tan phá ngày cảng nghiêm trọng, do đó lũ bão xây ra luôn có chiều hướng gia tng rong 3 thập kỹ nay ngày cảng ác liệt, lạt bão luôn là mối de doa thường xuyên đối với di ig và sản xuất của nhân dân Việt Nam, Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta gắn liền với công cuộc chỉnh phục thiên tai, đắp đê phòng lụt, từ thủa xa xưa cha ông ta đã biết dip dé ngăn lũ dọc theo các dòng sông, lẻ hạn chế lũ lụt do chúng gây ra đối với các cư dân sinh sống ở đọc theo hai bên sông. Trong sách lịch sử Việt Nam, đê được. nói đến đầu tiên là vào khoảng năm 521 dưới thời Lý Bí. Năm 1077, nha Lý cho đắp để sông Như Nguyệt - sông Cầu.
Dé Cơ Xá là con đê được vua Lý Nhân Tong cho xây dựng năm Mậu Tỷ (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi ngập lục. Thing 3 năm Mậu Thân (1248), vua Trin Thái Tông sai quan ở các lộ ip đê ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biễn, gọi là Dinh Nhỉ Dé hay Để Quai Vac Nguyễn Công Trir đã có công khẩn hoang ving duyên hải Ninh Binh, Thái Bình, Chỉ trong 2 năm (1828 - 1829), Ông lập ra 2 huyện Tiên Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Đây là vùng dit bồi, hàng năm tốc độ phủ sa bồi tụ biển từ (80 + 100) m. Từ đó, cử sau (20 + 30) năm, để mới được xây đắp lần ra biển.
Đến nay, Kim Sơn đã hành quai dé lin biển sáu lần, tiễn ra biển hơn 500 m, nhờ vậy diện hiện nay gấp gần 3 lần so với khi mới thành lập. Hiện nay, Việt Nam có gần 8000km dé, trong đó có gần 6000km đề sông. và 2000km để bi Riêng đề sông chính có 3000km và 1000km đề biển quan trọng. Có gin 600 kè các loại và 3000 cống dưới đẻ.
Ngoài ra còn có 500 km bờ bao chống lũ sớm, ngăn mặn ở đồng bằng sông Cửu Long. Riêng hệ thống sông Hồng trong đồng bing Bắc Bộ có 3000km đê sông và 1500 km dé biển. Ở miền Bắc có hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, miền Trung có hệ thống sông Mã, sông Ca, sông Vu Gia Thu Bổn, sông Vệ, sông Trà Khúc, sông Côn, sông Ba, sông Cai Nha Trang; miễn Nam cỏ sông Đồng Nai, song Bé, s Cứu Long. Các hệ thing sông nay hàng năm đã cung cấp cho chúng ta ng nước quí giá để phục vụ đời sống con người và phát triển nền kinh tế quốc dân.
Lợi ích mà cáchi ông sông này đem lại là vô cùng to lớn, nhưng tác hại do lã lụt từ các hệ thống sông này gây ra cho cho con người và nền kinh tế quắc dân cũng không phải là nhỏ. Tuy nhiên hệ thống đẻ được xây dựng đã lâu đời trên a u, đất dip dé cũng lấy từ địa phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị hư hại vi thi duy tu bảo dường. Nhiều công trinh phong lũ như kẻ, cổng. được xây dựng đã lâu rit lạc hậu.
Dọc theo đê còn có nhiễu ao hồ làm nước lũ khó thoái. Dân cu quá đông đúc sống kế cận bờ dé, nhiều nhà cửa xây cắt ngay trên bờ đê. Trong những năm gin day, nhiễu trận lũ lớn thường xuyên xuất hiện ở nhiều nước trên thé giới, trong khu vực và có xu thế ngiy cảng gia tăng. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia chịu sự tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu, trong vài thập ky gần đây cho thấy những trận lũ lớn xảy ra liên tiếp trên phạm ví cả nước và có xu thể ngày cảng gia tăng cả về số lượng và cường độ, trong đó có hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình.
Vi vậy dé có thé bị vỡ bắt cứ lúc nào trong mùa lũ lớn Hinh 1-7: Bản da hệ thống dé lưu vực sông Hang - Thái Bình 1. Vấn dé ôn định và biến dang của đê sông 12. Các nghiên cứu về ẩn định và biến dang của dé sông trên thế giới Hiện nay trên thé giới hệ thống dé sông được xây dựng chủ yếu bằng vật liệu địa phương là đập dit, vin dé mắt ôn định thường chỉ sảy ra dưới dang trượt mái đốc thượng và hạ lưu lựa chọn kích thước mặt cắt chưa thật hợp lý. Tất cả các mái đốc đều có xu hướng giảm độ đốc đến một dạng én định hơn cuối cùng là chuyển sang nằm ngang.
Cho nên quan niệm mắt én định của mái đốc là khi chúng có xu hướng đi chuyển và phá hoại (khi khối đất đá thực sự có di chuyển), Trong thực tế người ta quan sit được nhiều dạng di chuyển (ph hoại) khác nhau. Thường phân ra các dang di chuyển chủ yếu như (hình 1-9). 3 >) 1-9: Cúc dang di chuyển cũa khối đất đá. Sut lỡ; b, trượi tịnh tiễn; e.
Trượt xoay; d. Trượt đồng, ‘Sur 1d: Dit đá di chuyên rời xa khỏi chỗ bị gián đoạn (khe nút, mặt phân lớp đốc, mặt đứt gẫy. Điều kiện phá hoại chủ yếu do sự tăng thêm áp lực trong các gián đoạn (áp lực nước, lực rung động.) (hình1 ba) Trượt: Ở dạng đi chuyển này, k i đất đá cơ bản không bị xáo trộn trong khi bị trượt theo một mặt xác định. Nguyên nhân có sự di chuyển này là do phá hoại cắt dọc theo một mặt ở trong khối đất.
Thực tế thường có bai hình thức trượt trượt tịnh tiến (hình 1-9, b) và trượt xoay (hình 1-9, ¢). Trượt dàng: Ö đây ban thân khôi trượt bị xáo động và di chuyển một phần hay toàn bộ như một chất lỏng (hình 1-9, đ). Trượt ding thường xây ra trong đất yếu bao hod nước khi áp lực nước lỗ rỗng tăng đủ để lâm mắt toàn bộ cường độ (độ bền) chống cắt của đắt.