CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU VÀ CHỐNG THẤT THU THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Cơ sở lý luận về thuế xuất nhập khẩu 1. Một số khái niệm cơ bản về thuế và thuế xuất nhập khẩu a. Khái niệm về thuế Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng thuế ra đời, tồn tại và phát triển là đòi hỏi khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu, nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên là: quyên góp của dân, vay dân và dùng quyền lực bắt dân đóng góp. Trong đó quyên góp và vay của dân là những hình thức không mang tính ổn định lâu dài, thường chỉ được sử dụng trong giới hạn trong những trường hợp đặc biệt. Trong chế độ phong kiến, ý niệm về thuế rất đơn giản, thuế là sự đóng góp tiền bạc của dân chúng nhằm cung cấp lương bổng cho quân sỹ và quan lại. Khi giai cấp tư sản lên nắm chính quyền và thực hiện mô hình Nhà nước không can thiệp vào kinh tế, thuế chỉ đóng vai trò huy động nguồn lực tài chính tối thiểu để nuôi sống bộ máy Nhà nước và đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng, an ninh.
Vào những năm 1929-1933 nền kinh tế tư bản lâm vào khủng hoảng, mô hình trên đã bộc lộ những hạn chế. Sau thời gian này một mô hình kinh tế mới ra đời, tỏ ra có hiệu quả, được đa số các nước áp dụng đó là nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước. Thuế lúc này được Nhà nước sử dụng như một công cụ sắc bén để điều chỉnh nền kinh tế. Có nhiều khái niệm khác nhau về thuế, theo C.Mác “thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu tiền”, còn Lê Nin cho rằng “thuế là cái Nhà nước thu của dân mà không bù lại”.
Còn một cách hiểu khác về thuế: thuế là một hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế bắt buộc không hoàn lại. Như vậy tuỳ theo góc độ đề cập, quan niệm về thuế còn khác nhau, điểm chung các quan điểm này là hoặc mới chỉ nêu được những yếu tố cơ bản của thuế hoặc mới chỉ coi thuế là một khoản đóng góp nghĩa vụ bắt buộc mà chưa thấy được những quyền lợi mà đối tượng nộp thuế được hưởng khi làm nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. 5 Dưới một góc nhìn mới về thuế, việc tổ chức, cá nhân nộp thuế cho Nhà nước không phải chỉ để thực hiện nghĩa vụ được quy định trong Hiến pháp, nộp thuế còn là quyền lợi của mọi người dân trong xã hội. Thông qua nộp thuế, các tổ chức, cá nhân thể hiện quyền được đóng góp theo nghĩa vụ cho Nhà nước, quyền được tiếp tục hoạt động kinh doanh và hưởng những dịch vụ công cộng mà xã hội đem lại.
Xuất phát từ cách tiếp cận trên có thể hiểu khái niệm thuế là một khoản tiền hoặc hiện vật mà các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi đóng góp theo luật định cho Nhà nước theo mức độ, thời hạn cụ thể nhằm đáp ứng nhu cầu chi của Nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế , phân phối lại một phần thu nhập và của cải của xã hội, kiểm soát quá trình phân phối và mức chi tiêu trong nề kinh tế, thay đổi tập quán tiêu dùng của xã hội và không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế. Một phần thuế mà các tổ chức và cá nhân đóng góp cho Nhà nước được trả cho người dân một cách gián tiếp dưới các hình thức như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và các quỹ tiêu dùng khác. Khái niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Trên thực tế có rất nhiều loại thuế, và được chia ra do hai cơ quan thu chủ yếu đó là cơ quan Thuế và cơ quan Hải quan. Cơ quan Thuế chịu trách nhiệm thu thuế nội địa, cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm thu thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới Việt Nam, bao gồm: - Thuế xuất khẩu (thuế thu từ hàng hoá xuất khẩu): Thuế xuất khẩu là khoản tiền người xuất khẩu phải nộp khi tiến hành làm thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá ra khỏi biên giới.
- Thuế Nhập khẩu (thuế thu từ hàng hoá nhập khẩu): Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu động viên từ người tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu nhằm góp phần bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sản xuất trong nước. Thuế nhập khẩu với mục tiêu kinh tế là bảo hộ sản xuất trong nước và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc thu vào hàng hoá được phép nhập khẩu từ nước ngoài hoặc từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước; là thuế đánh vào hàng hóa khi nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới quốc gia; hàng hoá đưa từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước. Thuế nhập khẩu là thuế gián thu - một trong những yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá. 6 Thuế nhập khẩu do các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định của pháp luật với mức độ và thời hạn cụ thể.
Sử dụng tốt chính sách thuế nhập khẩu là phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của thuế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, thuế nhập khẩu còn là công cụ thể hiện chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia với các quốc gia khác trong thương mại quốc tế. Việc sử dụng có hiệu quả thuế nhập khẩu chính là phát huy đầy đủ các chức năng cơ bản của nó trong lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa. Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực thì thuế nhập khẩu càng thể hiện vai trò và tác dụng không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, mà còn là công cụ thể hiện chính sách đối ngoại giữa các quốc gia với nhau.
Các nội dung cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 1.1 Thuế xuất khẩu - Thuế xuất khẩu do cơ quan Hải quan quản lý thu khi người xuất khẩu làm thủ tục hải quan xuất khẩu hàng hoá qua cửa khẩu ra khỏi biên giới Việt Nam. - Thuế xuất đối với hàng hóa xuất khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng chịu thuế xuất khẩu. - Thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng xuất khẩu được sản xuất, chế biến từ toàn bộ nguyên liệu nhập khẩu thì không phải nộp thuế xuất khẩu. Trường hợp hàng hóa được sản xuất từ hai nguồn là nguyên liệu nhập khẩu và nguồn nguyên liệu có nguồn gốc trong nước thì không phải nộp thuế xuất khẩu đối với số lượng hàng hóa xuất khẩu tương ứng với số nguyên liệu nhập khẩu đã được sử dụng để sản xuất, chế biến thực tế hàng đã xuất khẩu.
Số lượng hàng hóa xuất khẩu được sản xuất chế biến từ nguồn nguyên liệu trong nước phải nộp thuế xuất khẩu theo mức thuế xuất khẩu quy định đối với hàng xuất khẩu đó. - Phương pháp tính thuế XK đối với hàng hóa XK được xác định như sau: Thuế XK Giá tính Thuế suất = x (1.1) phải nộp thuế XK thuế XK 7 1.2 Thuế nhập khẩu Theo quy định tại các văn bản hiện hành hướng dẫn về thuế NK, nội dung cơ bản của thuế NK bao gồm: 1. Phạm vi áp dụng a. Đối tượng chịu thuế Hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng chịu thuế NK: - Hàng hóa NK qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam bao gồm: hàng hóa NK qua cửa khẩu đường bộ, đường sông, cảng biển, cảng hàng không, đường sắt liên vận quốc tế, bưu điện quốc tế và địa điểm làm thủ tục hải quan khác được thành lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Hàng hóa được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan. Khu phi thuế quan bao gồm: khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, khu bảo thuế, kho ngoại quan, khu kinh tế thương mại đặc biệt, khu thương mại - công nghiệp và các khu vực kinh tế khác được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa giữa khu này với bên ngoài là quan hệ XK, NK. - Hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa NK. Đối tượng không chịu thuế Hàng hóa trong các trường hợp sau đây là đối tượng không chịu thuế NK: - Hàng hóa vận chuyển quá cảnh hoặc chuyển khẩu qua cửa khẩu Việt Nam theo quy định của pháp luật.
- Hàng hóa viện trợ nhân đạo, hàng hóa viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ, các tổ chức thuộc Liên hợp quốc, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ nước ngoài (NGO), các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân người nước ngoài cho Việt Nam nhằm phát triển kinh tế - xã hội, hoặc các mục đích nhân đạo khác được thực hiện thông qua các văn kiện chính thức giữa hai Bên, được cấp có thẩm quyền phê duyệt; các khoản trợ giúp nhân đạo, cứu trợ khẩn cấp nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh. - Hàng hóa NK từ nước ngoài vào khu phi thuế quan và chỉ sử dụng trong khu phi thuế quan; hàng hóa đưa từ khu phi thuế quan này sang khu phi thuế quan khác. Đối tượng nộp thuế; Đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế * Đối tượng nộp thuế bao gồm: 8 - Chủ hàng hóa NK; - Tổ chức nhận ủy thác nhập khẩu NK; - Cá nhân có hàng hóa NK khi nhập cảnh; nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam. * Đối tượng được ủy quyền, bảo lãnh và nộp thay thuế, bao gồm: - Đại lý làm thủ tục hải quan trong trường hợp được đối tượng nộp thuế ủy quyền nộp thuế NK; - Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thay thuế cho đối tượng nộp thuế; - Tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng trong trường hợp bảo lãnh, nộp thay thuế cho đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật quản lý thuế.