Chương 1. Cơ s lý luận và thực tiễn về chính sách việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh. Phân tích và đánh giá thực trạng giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ n. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn trên địa bàn tỉnh Nghệ n.
7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 1. Chính sách việc làm và giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn 1. Chính sách Theo Bách khoa toàn thư m : Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức.
Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan. Các chính sách hỗ trợ trong việc ra quyết định chủ quan thường hỗ trợ quản lý cấp cao với các quyết định phải dựa trên thành tích tương đối của một số yếu tố và do đó thường khó kiểm tra khách quan. i c l m giải qu t vi c làm v p ân loại vi c l m * i cl m Quan niệm về việc làm không có tính cố định mà nó được xét.
trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ một quốc gia phát triển về mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị thay đổi, quan niệm về việc làm cũn.g sẽ biến đổi theo. Lịch sử cho thấy việc thay đổi những quan điểm, chủ trương về tương lai trực tiếp ảnh hư ng tới số lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm. Có quan niệm cho rằng, tất cả các hoạt động, hành vi mang lại thu nhập để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều được gọi là việc làm.
Quan niệm này đã không tính đến tính pháp lý của việc làm, đã đồng nhất việc. làm hợp 8 phá.p và hoạt động bất hợp pháp. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay khô.ng thể chấp nhận quan niệm này, b i khi các quan hệ thị trường ngày càng phát sinh cả những mặt tích cực và tiêu cực, nhiều nguồn thu nhập không chính đáng đang làm gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm hãm sự tăng trư ng, phát triển nền kinh tế của đất nước. Quan niệm thứ ba lại cho rằng: Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng mà trong đó có sự trả công bằng tiền bạc hoặc hiện vật, do đó nó có một sự tham gia tích cực, có tính cá nhân, trực tiếp vào nỗ lực sản xuất.
So với hai quan niệm trên quan niệm này có bước phát triển hơn, khái quát hơn. Tuy nhiên nếu chỉ có những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật mới được coi là việc làm thì chưa thực sự thoả đáng. Những người nằm trong lực lượng lao động nhưng làm công việc nội trợ chẳng hạn, bản thân họ không nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hay hiện vật từ xã hội, từ người sử dụng lao động mà chỉ nhận được sự phân phối lại trực tiếp thu nhập từ các thành viên trong gia đình. Họ không trực tiếp mà gián tiếp tạo ra thu nhập, họ nhận được thu nhập gián tiếp thông qua điều tiết thu nhập từ các thành viên trong gia đình có vi.ệc làm hư ng tiền lương trong xã hội.
Vậy, họ là những người có việc làm, đảm nhận một chức năng trong luồng máy lao động của xã hội - nghề nội trợ. Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế ILO đã đưa ra quan niệm: “Người có việc là.m là những người l.àm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật” Trước đây, trong cơ chế cũ việc làm của người lao động thường do nhà nước giải quyết với chế độ “biên chế” suốt đời. Người lao động có việc làm được xã hội tôn trọng và thừa nhận là những người làm việc trong các cơ 9 quan hành chính sự nghiệp của nhà nước, các đơn vị kinh tế quốc doanh, với quan niệm Nhà nước. bố trí việc làm cho người lao động.
Chính vì vậy, xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ, ổn định. Quan điểm đó tạo ra tâm lý lại vào nhà nước người lao động khi họ cần việc làm. Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN, quan niệm trên đã thay đổi. Quan điểm mới về việc làm được thể hiện Luật lao động của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2012.
Điều 13, chương 2 việc làm của Luật qui định: “Mọi oạt ng l o ng tạo r nguồn t u n ập k ng p áp luật cấm ều ược t ừ n ận l vi c l m ”. Từ quy định trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về việc làm: i c làm l n ững oạt ng l o ng sản xuất trong tất cả các lĩn vực củ ời s ng xã i m ng lại t u n ập c o người l o ng m k ng p áp luật ngăn cấm. Quan niệm trên về việc làm hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam hiện nay. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, người lao động có thể làm bất cứ việc gì, bất cứ đâu, miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn cho bản thân.
Quan niệm này đã m ra một hướng mới cho vấn đề giải quyết việc làm, m ra một thị trường việc làm phong phú, đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao độ.ng và tiềm năng toàn xã hội. Qua những phân tích trên, chúng ta thấy đặc trưng chung của việc làm là: ề mặt p áp lý: việc làm phải hợp pháp, phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về độ tuổi, về những ngành nghề được làm và không được làm. ề mặt kin t : nó phải đáp ứng lợi ích kinh tế của người lao động như thu nhập, bình đẳng, tăng trư ng và phát triển quốc tế. ề c n tr : việc làm thể hiện rõ những quan điểm, đường lối lãnh đạo của giai cấp cầm quyền.
10 ề mặt xã i: việc làm phải phù hợp với truyền thống văn hoá, đạo đức, phong tục tập quán, công bằng xã hội. ề mặt cá t ể: việc làm thể hiện những tri thức, năng lực, phẩm chất của người lao động khi tham gia vào những ngành nghề cụ thể. Như vậy, việc làm là một phạm trù kinh tế - xã hội, việc làm chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ. Quan niệm đúng về việc làm chính là cơ s khoa học cho giải quyết việc làm.
* iải qu t vi c làm - Giải quyết việc làm là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế. Giải quyết việc làm không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm. Đây là vấn đề còn ít được chú ý khi đề cập đến vấn đề giải quyết việc làm, người ta chỉ quan tâm đến khía cạnh thứ hai của nó là vấn đề tạo ra việc làm. * Sự cần t i t củ vi c giải qu t vi c l m c o t n ni n n ng t n Do d c c u ển cơ cấu kin t : Lao động nông nghiệp sản xuất ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người, do vậy là lao động tất yếu trong mọi xã hội.
Chừng nào năng suất lao động còn thấp, một lao động nông nghiệp sản xuất chỉ đủ nuôi bản thân họ thôi, chừng ấy lao động xã hội chủ yếu còn nằm trong nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, năng suất lao động nông nghiệp tăng lên, khi đó một lao động nông nghiệp có thể nuôi nhiều người khác, thì lao động mới được rút ra khỏi nông nghiệp để hình thành các ngành nghề khác, dẫn tới xu hướng lao động nông nghiệp giảm nhanh cả về tuyệt đối và tương đối, ngược lại lao động công nghiệp và dịch vụ có xu hướng dịch chuyển tăng lên. Do quá trìn t ó : Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa cũng làm cho lao động xã hội chuyển từ khu vực nông nghiệp nông thôn sang khu 11 vực công nghiệp, dịch vụ. Hiện nay các nước có nền kinh tế phát triển, lao động nông nghiệp chỉ từ 1-5% tổng số lao động xã hội.
Theo dự báo những năm tới cơ cấu việc làm theo nhóm ngành các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng sẽ còn có những thay đổi và chuyển dịch nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều hạn chế. Đó là hậu quả của vấn đề dân số những năm trước đã tăng cao, nên đến nay số người bước vào tuổi lao động lớn kéo theo số người thất nghiệp, thiếu việc làm gia tăng, trong đó đáng lo nhất là nhóm thanh niên trẻ độ tuổi lao động đặc biệt là lao động nông thôn. Việt Nam xu hướng dịch chuyển lao động nêu trên là tất yếu, song sẽ là nguy cơ nếu chưa giải quyết được các điểm yếu lớn hiện nay về cung và cầu việc làm trên thị trường đó là: 1 Về cung, các doanh nghiệp không tạo được nhiều việc làm do số lượng doanh nghiệp giảm, làm ăn khó khăn và hiệu quả kinh doanh thấp; đất đai và các nguồn lực sử dụng không hợp lý, khả năng tạo việc làm mới hạn chế. 2 Về cầu, tỉ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, nhất là lao động trong khu vực nông nghiệp, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu, cơ cấu đào tạo bất hợp lý, không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phân bổ và sử dụng lao động chưa hiệu quả kéo theo năng suất lao động thấp và yếu thế khi cạnh tranh trên thị trường lao động trong và ngoài nước.