CHƯƠNG I LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢCVÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH: 1.1 Chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm về chiến lược Đầu tiên, khái niệm chiến lược đề cập nhiều nhất trong lĩnh vực quân sự, nó bao hàm một ý niệm về tác động qua lại và năng động bắt nguồn từ cuộc tranh chấp giữa những người có ý muốn đối nghịch nhau. Nguyên tắc cơ bản của chiến lược là làm chủ những tác động qua lại của các phe có ý muốn. các bên đều thường xuyên chịu ảnh hưởng lẫn nhau bởi cách quan sát tình hình bên mình và bên đối phương. Bên nào biết rõ hơn sự biến động của bên đối phương đồng thời phối hợp hiệu quả các nổ lực của các đơn vị nội bộ nhằm có được những phương án giải pháp áp chế các hoạt động của đối phương, làm chủ tác động qua lại sẽ có nhiều cơ hội chiến thắng hơn.
Trong thương trường sự cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi nhà quản lý phải tư duy nhằm mục đích giành chiến thắng trước đối thủ cạnh tranh và người ta đã ứng dụng kết hợp với tư tưởng quân sự vào kinh doanh ngày càng nhiều. Thuật ngữ chiến lược được định nghĩa theo nhiều các khác nhau. Ở đây đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh thực tiễn của vấn đề. Chiến lược có thể coi là tập hợp những quyết định và hành động hướng mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những yêu cầu (nắm bắt những cơ hội và đương đầu với thách thức) từ môi trường bên ngoài.
Năm 1996, Michael Porterr, giáo sư nổi tiếng về chiến lược kinh doanh đã phát biểu những quan niệm mới của mình về chiến lược qua bài báo : “Chiến lược là gì” ông cho rằng : Dương Thanh Tạo -4- Luận văn cao học QTKD 2008 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn đánh đổi trong cạnh tranh. Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của công ty. Nói cách khác, chiến lược là : -Nơi mà doanh nghiệp cố gắng vươn tới trong dài hạn.
-Doanh nghiệp phải cạnh tranh trên thị trường nào và những loại hoạt động nào doanh nghiệp thực hiện trên thị trường đó. -Doanh nghiệp phải làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên những thị trường đó. -Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng lực kỹ thuật, trang thiết bị) cần phải có để có thể cạnh tranh được. -Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
-Những giá trị và kỳ vọng nào mà những người có quyền hành trong và ngoài doanh nghiệp cần là gì. -Chữ chiến lược có rất nhiều nghĩa, mỗi tác giả sử dụng nó theo nghĩa riêng. Minzberg (1976) đã tổng kết những nghĩa của từ đã được các học giả sử dụng và đưa ra năm nội dung chính của chiến lược đó là “5P”: ●Plan (kế hoạch) : Chiến lược là kế hoạch hay một chương trình hành động được xây dựng một cách có ý thức. ●Ploy (mưu mẹo) : Chiến lược là mưu mẹo.
●Pattern (mô thức, dạng thức) : Chiến lược là tập hợp các hành vi gắn bó chặt chẽ với nhau theo thời gian. Dương Thanh Tạo -5- Luận văn cao học QTKD 2008 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội ●Position (vị thế) : Chiến lược là sự xác định vị trí của doanh nghiệp trong môi trường của nó. ●Perspective (triển vọng) : Chiến lược thể hiện viễn cảnh của doanh nghiệp nhưng đồng thời cũng thể hiện sự nhận thức và đánh giá thế giới bên ngoài (môi trường) của doanh nghiệp. Nhìn chung, quản lý chiến lược là tập hợp các hành động, quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm giúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra, và nó cần xây dựng sao cho tận dụng được những điểm mạnh cơ bản bao gồm các nguồn lực và năng lực của tổ chức cũng như phải xét tới những cơ hội , thách thức của môi trường.2 Khái niệm về chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh được nhiều nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu và đã đưa ra nhiều định nghĩa khác về thuật ngữ “chiến lược kinh doanh” Tùy theo từng cách tiếp cận chiến lược kinh doanh mà xuất hiện các quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh : Theo cách tiếp cận cạnh tranh, Micheal Poter cho rằng: “chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh.” Theo Alfred Chandler viết : “chiến lược kinh doanh là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của doanh nghiệp, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó” Theo Jame B.Quinn cho rằng “Chiến lược kinh doanh là một dạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau” Theo William J.Glueck “chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”.
Dương Thanh Tạo -6- Luận văn cao học QTKD 2008 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Theo K. Ohmae “mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác định ranh giới của sự thỏa hiệp”. Chiến lược kinh doanh phản ánh các hoạt động của đơn vị kinh doanh bao gồm quá trình đặt ra các mục tiêu và các biện pháp, các phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó. Nhìn chung, chiến lược là tập hợp các hành động, quyết định có liên quan chặt chẽ với nhau nhằm giúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu đã đề ra, và nó cần xây dựng sao cho tận dụng được những điểm mạnh cơ bản bao gồm các nguồn lực và năng lực của tổ chức cũng như phải xét tới những cơ hội , thách thức của môi trường.
Vậy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là những quyết định hoặc những kế hoạch thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp những hoạt động của các đơn vị kinh doanh (SBU) hoặc lĩnh vực kinh doanh (SBF) trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh được nhìn nhận như một nguyên tắc, một tôn chỉ trong kinh doanh. Chính vì vậy, doanh nghiệp muốn thành công trong kinh doanh, điều kiện tiên quyết phải có chiến lược kinh doanh và tổ chức tốt việc thực hiện chiến lược đó .3 Vai trò của chiến lược kinh doanh Trong điều kiện môi trường kinh doanh luôn biến động như hiện nay, thường tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ, quá trình quản trị chiến lược giúp chúng ta nhận biết được cơ hội và nguy cơ trong tương lai, các doanh nghiệp xác định rõ hướng đi, vượt qua những thử thách trong thương trường, vươn tới tương lai bằng nỗ lực của chính mình. Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được việc gì cần làm để đạt được thành công.
Như vậy sẽ khuyến Dương Thanh Tạo -7- Luận văn cao học QTKD 2008 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội khích cả hai nhóm đối tượng nói trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt hơn phúc lợi lâu dài của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh giúp cho các doanh nghiệp định được hướng đi vươn tới tương lai bằng sự nỗ lực của chính mình; giúp doanh nghiệp xác định rõ những mục tiêu cơ bản cần phải đạt được trong từng thời kỳ và cần phải quán triệt ở mọi cấp, mọi lĩnh vực hoạt động trong doanh nghiệp hoặc cơ quan, nhằm khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực, phát huy những lợi thế và nắm bắt những cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh. Bên cạnh đó, quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh trên cơ sở theo dõi một cách liên tục những sự kiện xảy ra cả bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp, nắm được xu hướng biến đổi của thị trường; cùng với việc triển khai thực hiện chiến lược kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp thích ứng với thị trường, và thậm chí còn làm thay đổi cả môi trường hoạt động để chiếm lĩnh vị trí cạnh tranh, đạt được doanh lợi cao, tăng năng suất lao động, cải thiện môi trường, cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, quá trình đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bước đi.
Một chiến lược vững mạnh, luôn cần đến khả năng điều hành linh hoạt, sử dụng các nguồn lưc vật chất, tài chính và con người thích ứng với môi trường kinh doanh luôn biến động.2 Quản trị chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm về quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là tập hợp các bước mà các thành viên của tổ chức phải thực hiện như: phân tích tình hình hiện tại, quyết định những chiến lược, đưa những chiến lược này vào thực thi và đánh giá, điều chỉnh, thay đổi chiến lược khi cần thiết. Nó bao gồm tất cả các chức năng cơ bản của quản lý: lập kế họach, tổ chức, chỉ đạo và kiểm soát. Dương Thanh Tạo -8- Luận văn cao học QTKD 2008 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Như vậy, quản trị chiến lược là một quá trình sắp xếp và vận dụng linh hoạt các mô hình chiến lược, tình hình hoạt động và kết quả kinh doanh, nó bao gồm lãnh đạo, nhân lực, kỹ thuật và cả phương pháp xử lý. Sở dĩ cần đề cập đến quản trị chiến lược là vì sự kết hợp có hiệu quả của những nhân tố này sẽ sẽ trợ giúp cho phương hướng chiến lược và cung cấp dịch vụ hoàn hảo.
Đây là một hoạt động liên tục để xác lập, duy trì phương hướng chiến lược và hoạt động kinh doanh của một tổ chức; quá trình ra quyết định hàng ngày để giải quyết mọi tình huống đang thay đổi và những thách thức trong môi trường kinh doanh.