CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1.1 CHIẾN LƯỢC VÀ PHÂN LOẠI CHIẾN LƯỢC 1.1 Khái niệm chiến lược Hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất về chiến lược kinh doanh. Các nhà kinh tế đưa ra các mô tả thuật ngữ này theo các khía cạnh khác nhau tuỳ theo từng cách tiếp cận xuất hiện các quan điểm khác nhau về chiến lược kinh doanh. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược là tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng như các kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó .Ohmae : "Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang lại những điều thuận lợi nhất cho mọi phía, đánh giá thời điểm tấn công hay rút lui, xác định đúng ranh giới của sự thoả hiệp" và ông nhấn mạnh " Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược, mục đích duy nhất của chiến lược là đảm bảo giành thắng lợi" [5] Theo Micheal E.Porter : " Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ' [3] Theo Alain Thretaet : " Chiến lược kinh doanh đó là việc xác định các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản" [7] Theo nhóm tác giả này, quan niệm chiến lược kinh doanh là nghệ thuật để giành thắng lợi trong cạnh tranh được phổ biến ngày nay.
Theo hướng tiếp cận về khía cạnh quản lý có các quan điểm sau : Nguyễn Ngọc Minh Thy Khoa kinh tế và quản lý Luận văn thạc sỹ QTKD 4 ĐHBK Hà Nội Theo James B.Quinn : “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các mục tiêu hành động thành một tổng thể kết dính với nhau” Theo William J.Gueck : "Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp được thực hiện" [5] Tổng hợp các quan niệm trên ta có thể hiểu : Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường là căn cứ vào điều kiện khách quan và chủ quan, vào nguồn lực doanh nghiệp có thể có để đưa ra mưu lược, con đường, biện pháp nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển ổn định lâu dài theo mục tiêu phát triển mà doanh nghiệp đặt ra. Như vậy có thể thấy chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có 4 yếu tố: Một là tình hình hiện nay của doanh nghiệp, vì muốn xác định chiến lược kinh doanh thì phải đi sâu tìm hiểu hiện trạng của doanh nghiệp. Hai là mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp , tức là mục tiêu phát triển của doanh nghiệp có thể đạt được trong những năm tới. Ba là doanh nghiệp sẽ kinh doanh sản phẩm gì, ở thị trường nào.
Bốn là biện pháp mà doanh nghiệp sẽ áp dụng để đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra như sách lược quản lý, sách lược sản xuất, sách lược nguồn nhân lực , sách lược tài chính.2 Phân loại chiến lược kinh doanh Có nhiều cách phân loại chiến lược kinh doanh.Tuỳ theo căn cứ phân loại mà hình thành các chiến lược khác nhau.1 Phân loại theo cấp xây dựng và quản lý chiến lược. Chiến lược cấp công ty là chiến lược bao trùm toàn bộ hoạt động của Tổng công ty, nhằm mục đích hiện thực hoá nhiệm vụ chiến lược và các mục Nguyễn Ngọc Minh Thy Khoa kinh tế và quản lý Luận văn thạc sỹ QTKD 5 ĐHBK Hà Nội tiêu chính của công ty, đánh giá khả năng thực hiện chiến lược và phân tích danh mục sử dụng vốn đầu tư. Chiến lược công ty đề ra nhằm xác định các hoạt động kinh doanh mà trong đó công ty sẽ cạnh tranh và phân phối các nguồn lực giữa các hoạt động kinh doanh đó. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh nhằm xác định việc lựa chọn sản phẩm hoặc thị trường cụ thể cho hoạt động kinh doanh riêng trong nội bộ công ty, xác định cách thức mỗi đơn vị kinh doanh thực hiện chức năng nhiệm vụ ra sao để góp phần hoàn thành chiến lược chung và chiến lược của các đơn vị khác trong công ty để hậu thuẫn cho việc hoàn thành chiến lược và mục tiêu chung.
Nếu công ty là đơn ngành thì chiến lược cấp đơn vị kinh doanh có thể được coi là chiến lược cấp công ty. Chiến lược của các bộ phận chức năng trong công ty là tập trung hỗ trợ các chiến lược của công ty, đó là chiến lược bộ phận thị trường, bộ phận tài chính kế toán, bộ phận tổ chức sản xuất, bộ phận nghiên cứu phát triển, bộ phận Marketing, bộ phận vật tư, bộ phận nhân lực và bộ phận thông tin. Xây dựng chiến lược các cấp đều giống nhau. Tuy nhiên các vấn đề trọng tâm ở mỗi cấp có khác nhau về nội dung và mức độ nhưng phải đảm bảo tính thống nhất, việc thông tin phản hồi thường xuyên liên tục giữa các cấp sẽ đưa đến quản trị chiến lược cao.2 Phân loại theo lĩnh vực kinh doanh Chiến lược sản xuất sản phẩm : Chọn cấu trúc sản phẩm phù hợp với cấu trúc chế tạo giúp cho công ty giảm thiểu chi phí, tạo được ưu thế cạnh tranh trên thị trường về giá sản phẩm đó là thế mạnh của công ty.
Chiến lược Marketing : Chọn lựa nhưng phân khúc thị trường mục tiêu, thiết kế chiến lược Marketing và định vị được thị trường, đó là 3 yếu tố chủ yếu của chiến lược Marketing để giúp doanh nghiệp có được cơ may thị trường. Nguyễn Ngọc Minh Thy Khoa kinh tế và quản lý Luận văn thạc sỹ QTKD 6 ĐHBK Hà Nội Chiến lược mua sắm vật tư : Vai trò chức năng quản lý vật tư là giám sát và kết hợp được 3 chức năng chính : Thu mua các nguồn lực cung cấp đầu vào cho sản xuất kinh doanh, kiểm soát sản xuất và phân phối sản phẩm đầu ra. Chiến lược này đóng vai trò quan trọng trong doanh nghiệp để đạt vị thế chi phí thấp. Chiến lược khoa học và công nghệ : Trong các chức năng kinh doanh thì việc đầu tư vào nghiên cứu phát triển thường sản sinh ra nhiều kết quả cao.
Chiến lược khoa học công nghệ có thể tập trung vào 3 loại chính là : Chiến lược đổi mới sản phẩm, chiến lược phát triển sản phẩm và những chiến lược đổi mới công nghệ chế tạo. Chiến lược tổ chức và nhân sự : Nó gồm tổ chức về cơ cấu bộ máy doanh nghiệp sao cho hợp lý, phân định chức năng quyền hạn, lựa chọn cán bộ đúng cương vị phụ trách với cân đối nhân sự hiện tại và tương lai, phân tích cung cầu thị trường nhân lực có những giải pháp cân đối nguồn nhân lực. Chiến lược thông tin : Các hệ thống thông tin cần được hỗ trợ cho các mục đích và mục tiêu của doanh nghiệp. Hiện nay, nhiều công ty đang sử dụng phương pháp kế hoạch hoá hệ thống thông tin kinh doanh là để xác định mục tiêu kinh doanh, tiến hành các hoạt động kinh doanh, phân loại dữ liệu và xác định kiến trúc thông tin.
Chiến lược tài chính: Doanh nghiệp phải xử lý quan hệ tài chính để không ngừng củng cố và còn phát triển sản xuất kinh doanh ngày càng đi lên. Đầu tư dài hạn vào đâu ? và bao nhiêu ? cho phù hợp mới từng giai đoạn kinh doanh để đạt hiệu quả cao. - Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp khai thác là nguồn vốn nào ? - Quản lý hoạt động tài chính của doanh nghiệp luôn chủ động, sáng tạo, áp dụng luật kế toán vào việc chỉ đạo hạch toán kế toán sát sao, năng động. Nguyễn Ngọc Minh Thy Khoa kinh tế và quản lý Luận văn thạc sỹ QTKD 7 ĐHBK Hà Nội 1.3 Phân loại theo dạng chiến lược sản xuất kinh doanh [10] Chiến lược xâm nhập và mở rộng thị trường : Tìm kiếm cơ hội phát triển thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động với hàng hoá, dịch vụ hiện có bằng các biện pháp Marketing, giảm giá.biến khách hàng tiềm năng thành khách hàng hiện có để mở rộng thị trường.
Chiến lược phát triển sản phẩm : nghiên cứu đưa ra những sản phẩm mới, cải tiến nâng cao chất lượng hoặc giảm giá sản phẩm đã có, thay thế cải tiến mẫu mã bao bì. Chiến lược đa dạng hoá trong kinh doanh .' Mở ra những lĩnh vực kinh doanh mới, kết hợp sản xuất và dịch vụ để hấp dẫn khách hàng. Chiến lược tạo ra sự khác biệt sản phẩm: Doanh nghiệp cần tạo ra sản phẩm dịch vụ, hàng hoá mà các đối thủ cạnh tranh không có như chất lượng sản phẩm cao, kiểu dáng mẫu mã đẹp, tạo nét riêng cho sản phẩm của doanh nghiệp. Chiến lược giá cả: doanh nghiệp sản xuất số lượng sản phẩm lớn, áp dụng công nghệ tiên tiến năng suất cao, tăng cường các biện pháp quản lý để hạ thấp chi phí trong sản xuất.
Chiến lược Marketing hỗn hợp (Marketing - Mix ) [12] "Marketing - Mix là sự phối hợp hay sắp xếp các thành phần của Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế để sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp". Nếu sự sắp xếp phối hợp tốt thì làm ăn của doanh nghiệp sẽ thành đạt và phát triển. Bốn thành phần cơ bản của chiến lược Marketing - Mix là "4P ": Sản phẩm (Product ) ; Giá cả (Price) ;Phân phối (Place); xúc tiến bán hàng (Promotion) 1. Các chiến lược cấp công ty Chiến lược cấp công ty là hệ thống những chiến lược tổng quát bao trùm toàn bộ các trương trình hành động nhằm vào mục đích thực hiện nhiệm vụ Nguyễn Ngọc Minh Thy Khoa kinh tế và quản lý Luận văn thạc sỹ QTKD 8 ĐHBK Hà Nội chiến lược và các mục tiêu chính của công ty.
Tái cấu trúc doanh nghiệp gắn liền với việc điều chỉnh các chiến lược hiện tại cũng như lựa chọn các chiến lược kinh doanh mới. Tái cấu trúc doanh nghiệp liên quan đến 3 khía cạnh cơ bản : tái thiết kế cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp, tái cấu trúc danh mục vốn đầu tư. Trong thực tế đối với cấp công ty những chiến lực cơ bản có thể lựa chọn bao gồm : 1.1 Các chiến lược tăng trưởng: Chiến lược tăng trưởng là những giải pháp định hướng có khả năng giúp cho công ty gia tăng doanh số và lợi nhuận của các đơn vị kinh doanh cao hơn hặc bằng tỉ lệ tăng trưởng bình quân ngành.