Chương 1: Cơ sở lý luận. Chương 2: Phân tích thực trạng kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Bến xe tàu phà Cần Thơ. Chương 3: Hoạch định chiến lược kinh doanh và giải pháp thực hiện cho Công ty Cổ phần Bến xe tàu phà Cần Thơ đến năm 2020. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Khái niệm chiến lƣợc, quản trị chiến lƣợc và sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách 1. Khái niệm chiến lƣợc Từ trước đến nay có rất nhiều cách phát biểu khái niệm về chiến lược kinh doanh, sau đây là một số phát biểu tiêu biểu: - Giáo sư Alfredd Chadler (1962) phát biểu: “Chiến lược kinh doanh là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản, lâu dài của doanh nghiệp, áp dụng một chuỗi các hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó”. - Michael Porter (1996) phát biểu rằng: “Chiến lược kinh doanh là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một Công ty, sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp nhiều hoạt động của chúng lại với nhau tạo thành cốt lõi của chiến lược là lựa chọn cái chưa được làm”. David (2006) phát biểu: “Chiến lược kinh doanh là những phương tiện đạt đến những mục tiêu dài hạn.
Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa các hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, liên doanh liên kết…”. - Theo Johnson và Scholes: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành lại được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. - Chiến lược là tổng hợp các động thái cạnh tranh và phương pháp kinh doanh sử dụng bởi những người quản lý để vận hành Công ty. - Chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách đặt ra trong một thời gian dài trên cơ sở khai thác tối đa các nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu phát triển.
Do đó, chiến lược cần được đặt ra là kế hoạch hoặc sơ đồ tác nghiệp tổng quát chỉ hướng cho Công ty đạt đến mục tiêu mong muốn. Vì thế, chiến lược đề ra phải hội đủ đồng thời các yếu tố sau: Chiến lược phải được vạch ra trong thời gian tương đối dài. Chiến lược phải tạo ra sự phát triển cho tổ chức. Chiến lược phải khai thác tối đa các nguồn lực và sử dụng hợp lý các nguồn lực hiện có.
Chiến lược phải tạo ra một vị thế cạnh tranh tốt nhất. 12 - Sau khi đề ra chiến lược thích hợp thì ta phải biến đổi chiến lược thành các chính sách, các chương trình hành động thông qua một cơ cấu tổ chức hữu hiệu nhằm đạt đến mục tiêu đã định. Đặt trưng của việc thực hiện chiến lược là: Tất cả các nhà quản trị đều là những người tham gia vào việc thực hiện chiến lược trong phạm vi quyền hành và trách nhiệm của mình có được, còn những thừa hành sẽ là những người tham gia dưới quyền chỉ huy của các nhà quản trị. Tiến trình thực hiện chiến lược được xem là thành công khi doanh nghiệp đạt được những mục tiêu và thể hiện sự tiến bộ rõ rệt trong việc tạo nên các lợi thế hoặc thế lực so với đối thủ cạnh tranh, so với việc thực hiện sứ mạng đã đề ra.
Thực hiện chiến lược là một quá trình kết hợp giữa tính khoa học và tính nghệ thuật của quản trị. Khái niệm quản trị chiến lƣợc Ngày nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị chiến lược sau đây là một số phát biểu phổ biến: Michael E. Porter (1998) phát biểu: “ Phát triển chiến lược kinh doanh là phát triển vị thế cạnh tranh thông qua lợi thế cạnh tranh” Fred R. David (2007) phát biểu: “Quản trị chiến lược có thể định nghĩa như là một nghệ thuật và khoa học thiết lập, thực hiện, đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho phép một tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra”.
Quản trị chiến lược kinh doanh là trong đó các nhà quản trị xác định các mục tiêu trong một thời gian dài và đề ra các biện pháp lớn có tính định hướng để đạt được mục tiêu trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có và những nguồn lực có khả năng huy động của doanh nghiệp. Cụ thể, quản trị chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của Công ty đề ra. Thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như tương lai. Mục đích của một chiến lược là nhằm tìm kiếm những cơ hội, hay nói cách khác là nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh.
Để tạo nên một chiến lược hài hòa và hữu hiệu cần xét đến các yếu tố tác động đến chiến lược như: Điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp, các cơ hội và nguy cơ thuộc môi trường bên ngoài của doanh nghiệp, mục tiêu nhiệm vụ của doanh nghiệp,… 13 1. Khái niệm về dịch vụ vận tải hành khách Khái niệm về dịch vụ vận tải: Dịch vụ vận tải đường bộ là ngành tổ chức vận tải thực hiện vận chuyển hàng hóa hoặc con người từ một địa điểm này đến một địa điểm khác. Khái niệm dịch vụ vận tải hành khách: Từ khái niệm dịch vụ vận tải nêu trên, nếu ta chia dịch vụ vận tải theo đối tượng chuyên chở ta sẽ có: Dịch vụ vận tải hàng hóa, dịch vụ vận tải hành khách, dịch vụ vận tải hàng hóa – hành khách. Nói cách khác ta có thể coi dịch vụ vận tải hành khách đó là dịch vụ vận tải có đối tượng là con người.
Hay cụ thể hơn dịch vụ vận tải hành khách là một ngành vận tải thực hiện việc chuyên chở con người từ một địa điểm này đến một địa điểm khác. Đối chiếu với quan niệm về dịch vụ thì dịch vụ vận tải hay dịch vụ vận tải hành khách là cách hiểu theo nghĩa rộng, tức là một lĩnh vực thứ ba trong nền kinh tế quốc dân, nằm ngoài hai lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp. Nói như vậy nhưng dịch vụ vận tải hành khách không tách rời khối sản xuất công nghiệp, nông nghiêp. Sản xuất phát triển tạo tiền đề cho dịch vụ vận tải hành khách phát triển và ngược lại dịch vụ vận tải hành khách phát triển góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Các yêu cầu khi xây dựng và hoạch định chiến lƣợc a) Các yêu cầu khi xây dựng chiến lược Khi xây dựng chiến lược kinh doanh các doanh nghiệp cần phải đáp ứng những yêu cầu sau: Phải bảo đảm tăng thế mạnh của doanh nghiệp và giành được ưu thế cạnh tranh trong thương trường kinh doanh. Phải xác định được vùng an toàn kinh doanh và xác định rõ được phạm vi kinh doanh, xác định rõ mức độ rủi ro cho phép. Phải xác định được rõ mục tiêu then chốt và những điều kiện cơ bản để thực hiện mục tiêu đó. Phải có một khối lượng thông tin và tri thức nhất định.
Phải xây dựng được chiến lược dự phòng, chiến lược thay thế. Phải biết kết hợp giữa thời cơ và thời gian trong kinh doanh. b) Phân loại chiến lược Căn cứ vào chức năng mà chiến lược có thể được chia thành nhóm chiến lược kết hợp, nhóm chiến lược chuyên sâu, nhóm chiến lược mở rộng hoạt động, nhóm chiến lược khác. * Nhóm chiến lược kết hợp: Trong nhóm chiến lược này có chiến lược kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau và kết hợp theo chiều ngang.
Kết hợp về phía trước: doanh nghiệp thực hiện để tăng quyền kiểm soát hoặc quyền sở hữu đối với các nhà phân phối hoặc bán lẻ. 14 Kết hợp về phía sau: doanh nghiệp thực hiện tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các nhà cung cấp. Điều này sẽ cho phép doanh nghiệp ổn định trong việc cung cấp, kiểm soát được chi phí đầu vào. Kết hợp theo chiều ngang: Doanh nghiệp muốn kiểm soát các đối thủ cạnh tranh.
Chiến lược này cho phép tập trung tài nguyên, mở rộng phạm vi hoạt động và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. * Nhóm chiến lược chuyên sâu: Trong nhóm này có các chiến lược như chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển thị trường và chiến lược phát triển sản phẩm. Chiến lược thâm nhập thị trường: Làm tăng thị phần cho các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có trong thị trường hiện tại của doanh nghiệp. Chiến lược phát triển thị trường: Đưa vào những khu vực địa lý mới các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có của doanh nghiệp.
Chiến lược phát triển sản phẩm: Đưa vào thị trường hiện tại các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự sản phẩm hiện có của doanh nghiệp nhưng đã được cải tiến sửa đổi. * Nhóm chiến lược mở rộng hoạt động: Các chiến lược mở rộng hoạt động bao gồm chiến lược đa dạng hóa hoạt động đồng tâm, đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang và đa dạng hóa hoạt động hỗn hợp. Đa dạng hóa hoạt động đồng tâm: Đưa vào thị trường hiện hữu những sản phẩm hoặc dịch vụ mới có liên quan đến các sản phẩm hiện thời. Đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang: Đưa vào thị trường hiện hữu cho nhóm khách hàng hiện tại những sản phẩm hoặc dịch vụ mới, không liên quan đến các sản phẩm đang có.
Đa dạng hóa hoạt động hỗn hợp: Đưa vào thị trường hiện hữu những sản phẩm hoặc dịch vụ mới, không liên quan đến các sản phẩm đang có. * Nhóm chiến lược khác: Ngoài các chiến lược đã nêu ở trên, trong thực tế còn có một số chiến lược khác mà doanh nghiệp có thể áp dụng như chiến lược liên doanh, thu hẹp hoạt động, từ bỏ hoạt động, thanh lý, v. Chiến lược liên doanh: Khi một hay nhiều doanh nghiệp liên kết với nhau để theo đuổi một mục tiêu nào đó. Chiến lược thu hẹp hoạt động: Khi doanh nghiệp cần phải cơ cấu lại, tiến hành từ bỏ một số sản phẩm hoặc lĩnh vực hoạt động nhằm cứu vãn lại vị thế của doanh nghiệp.
Chiến lược thanh lý: Là việc bán đi tài sản của doanh nghiệp.