CHƯƠNG 1 DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TRỌN GÓI DÀNH CHO DOANH NGHIỆP 1. DỊCH VỤ NGÂN HÀNG DÀNH CHO DOANH NGHIỆP 1. Dịch vụ ngân hàng 1. Dịch vụ Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy dịch vụ xuất hiện trong mọi hoạt động kinh tế của mọi hình thái kinh tế xã hội khác nhau.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính thống về dịch vụ. Dịch vụ trong kinh tế học, được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét nổi bật riêng mà hàng hóa hữu hình không có. Dịch vụ có bốn đặc điểm nổi bật, đó là: Một, dịch vụ có đặc tính vô hình.
Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ. Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tính không hiện hữu của dịch vụ gây nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ, khó khăn hơn cho marketing dịch vụ và khó khăn hơn cho việc nhận biết dịch vụ. Hai, dịch vụ có tính không đồng nhất, nghĩa là sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được.
Trước hết do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp không thể tạo ra được các dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng là người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào những cảm nhận của họ trong những thời gian khác nhau, sự cảm nhận cũng khác nhau, và những khách hàng khác nhau có sự cảm nhận khác nhau. Sản phẩm dịch vụ chỉ có giá trị khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của từng khách hàng. Do vậy, trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện cá nhân hóa, thoát ly khỏi quy chế, điều đó càng làm tăng thêm mức độ khác biệt.
2 Ba, dịch vụ có đặc tính không tách rời, nghĩa là sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Quá trình sản xuất gắn liền với tiêu dùng dịch vụ. Người tiêu dùng cũng tham gia hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho mình. Như vậy việc sản xuất dịch vụ phải thận trọng, phải có khách hàng, có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới có thể tiến hành được.
Bốn, sản phẩm dịch vụ mau hỏng hay nói cách khác dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác. Do vậy, việc tiêu dùng dịch vụ bị hạn chế bởi thời gian. Cũng từ đặc điểm này mà làm mất cân bằng, cân đối quan hệ cung cầu giữa các thời điểm khác nhau trong cùng một thời gian. Đặc tính mau hỏng của dịch vụ quy định sản xuất và tiêu dùng phải đồng thời.
Nếu không tuân thủ những điều kiện đó sẽ không có cơ hội mua bán và tiêu dùng chúng. Dịch vụ ngân hàng Thị trường dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên WTO trong hoạt động thương mại dịch vụ. Theo WTO thì “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác, trừ bảo hiểm”.
[12] Trong bảng danh mục phân loại các dịch vụ theo khu vực của WTO thì dịch vụ tài chính được xếp ở phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ, bao gồm dịch vụ kinh doanh, dịch vụ liên lạc, dịch vụ xây dựng và thi công, dịch vụ phân phối, dịch vụ giáo dục, dịch vụ môi trường, dịch vụ tài chính, dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội, dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến lữ hành, dịch vụ giải trí văn hóa thể thao, dịch vụ vận tải và các dịch vụ khác. 3 Trong dịch vụ tài chính có tất cả dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành dịch vụ tài chính nói chung. Hay nói cách khác, dịch vụ ngân hàng là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng, và các dịch vụ đó chỉ có ngân hàng với những ưu thế của nó mới có thể thực hiện một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Phân loại dịch vụ ngân hàng Các dịch vụ của ngân hàng thương mại được phân loại dựa trên ba nghiệp vụ cơ bản, đó là nghiệp vụ tài sản nợ, nghiệp vụ tài sản có và nghiệp vụ trung gian hoa hồng. Việc thực hiện ba nghiệp vụ này thể hiện bản chất của ngân hàng thương mại là doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ và các hoạt động ngân hàng bằng nhiều nguồn vốn, nhưng nguồn vốn chủ yếu là nguồn vốn huy động tiền gửi. • Huy động vốn Các ngân hàng thương mại thực hiện huy động vốn thông qua hai nghiệp vụ chính, đó là huy động vốn từ tiền gửi và vốn huy động bằng cách phát hành các giấy nợ. Với dịch vụ huy động vốn tiền gửi, ngân hàng thương mại tập trung huy động tiền gửi của các cá nhân, doanh nghiệp, các thành phần kinh tế.
Tiền gửi ngân hàng thương mại bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi vốn chuyên dùng. Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi có thể rút ra sử dụng bất kỳ lúc nào mà không cần phải báo trước về thời hạn và khối lượng tiền cần rút. Khách hàng gửi tiền loại này không vì mục tiêu lợi nhuận, mà chủ yếu là các khoản chi mua hàng hóa, dịch vụ, thực hiện các giao dịch về thanh toán. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà chủ sở hữu của nó có thể rút ra và được hưởng trọn vẹn lợi tức theo thời hạn đã qui định trước.
Nhưng trong 4 thực tế, do qui luật cạnh tranh chi phối, để thu hút được nhiều tiền gửi từ khách hàng, các ngân hàng thương mại vẫn cho phép khách hàng rút tiền ra trước thời hạn, nhưng được hưởng lãi suất thấp hơn, có thể là lãi suất không kỳ hạn. Mục đích của việc gửi tiền có kỳ hạn khác với gửi tiền không kỳ hạn là ở chỗ bên gửi tiền nhắm đến khả năng sinh lời, vì vậy đối với loại tiền gửi này ngân hàng thương mại cần phải trả lãi suất thỏa đáng cho khách hàng. Tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi của dân cư, của cá nhân, bao gồm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Ngoài ra còn có tiền gửi của các ngân hàng khác dùng cho việc thực hiện các nghiệp vụ đại lý.
Đối với dịch vụ huy động vốn bằng cách phát hành giấy nợ, ngân hàng thương mại có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi (phiếu nợ ngắn hạn với thời hạn từ 12 tháng trở xuống), trái phiếu ngân hàng (phiếu nợ trung dài hạn với thời gian trên 12 tháng), và kỳ phiếu với các mục đích riêng của ngân hàng tùy vào từng thời điểm. • Cấp tín dụng Dịch vụ tín dụng được sử dụng cho cả khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp và các định chế tài chính khác. Đây là hoạt động chiếm tỷ trọng khá lớn trong doanh thu các ngân hàng. Các loại hình của hoạt động cấp tín dụng bao gồm: cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay dự án, cho vay tiêu dùng, chiết khấu, bao thanh toán, thấu chi, bảo lãnh, thẻ tín dụng.
Cho vay bổ sung vốn lưu động là hoạt động cấp tín dụng ngắn hạn nhằm hỗ trợ nguồn vốn cho khách hàng, đáp ứng các nhu cầu thanh toán thường xuyên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh như mua nguyên vật liệu, hàng hóa dự trữ, tài trợ các khoản đối tác chậm trả, thanh toán lương công nhân, điện nước… Trong khi đó, cho vay đầu tư dự án là phương thức cho vay trung dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng để thực 5 hiện các dự án đầu tư. Đặc điểm của cho vay đầu tư dự án là số tiền giải ngân tương đối lớn, thời gian cho vay dài và thường bao gồm cả thời gian ân hạn. Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng để xây dựng, sửa chữa và mua nhà ở, mua đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại… Bên cạnh đó những nhu cầu về giáo dục, y tế, du lịch… cũng được các ngân hàng tài trợ.
Trước đây, cho vay tiêu dùng đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Tuy vậy, tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt trong khi nền kinh tế đã phát triển chậm lại. Tuy nhiên cho vay tiêu dùng vẫn là một trong các nguồn thu quan trọng nhất của ngân hàng. Chiết khấu là việc các tổ chức tín dụng mua các giấy tờ có giá từ người thụ hưởng trước khi các chứng từ đó đến hạn thanh toán.
Hay nói cách khác, chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đó các tổ chức tín dụng nhận các chứng từ có giá và trao cho khách hàng số tiền bằng mệnh giá của chứng từ nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận và chi phí ngân hàng được hưởng. Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng. Nghiệp vụ bao thanh toán bao gồm bao thanh toán nội địa và bao thanh toán xuất khẩu. Thấu chi là hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng bằng cách cho khách hàng chi vượt một số tiền nhất định trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, nhằm đáp ứng các nhu cầu tài chính cấp thiết.
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực 6 hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khi đó, khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.