CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP Lợi nhuận của doanh nghiệp.1 Khái niệm bản chất của lợi nhuận. Lợi nhuận không phải là một phạm trù kinh tế mới xuất hiện. Mỗi chế độ xã hội, mỗi giai đoạn lịch sử, lợi nhuận được hiểu theo những cách khác nhau. Đó là đề tài tranh luận của nhiều trường phái, nhiều nhà lý luận kinh tế từ những giai đoạn đầu sơ khai của nền kinh tế hàng hóa cho đến khi nền kinh tế thị trường phát triển ở giai đoạn cao.
Phương thức sản xuất phong kiến tan rã chuyển sang phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển thì lợi nhuận luôn giữ vai trò quan trọng, là mục đích mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng đều hướng tới, là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Như đã biết, trong nền kinh tế trọng thương thì lợi nhuận được hiểu là trong lĩnh vực lưu thông mua bán, trao đổi sinh ra. Nó là kết quả của việc mua rẻ bán đắt mà có.Có thể nói đây là một cách hiểu sơ khai nhất về lợi nhuận, sự hạn chế và cách hiểu bản chất lợi nhuận do họ chưa biết đến nguồn gốc sinh ra lợi nhuận. Dựa vào 4 quan niệm về lợi nhuận như trên, những đề xuất trong chính sách của họ đều thiên về tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
Đây còn là thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến, phát sinh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nền kinh tế giản đơn chuyển sang nền kinh tế thị trường và chủ nghĩa trọng thương là hệ thống tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản. Trong khi đó, quan điểm về lợi nhuận của chủ nghĩa trọng nông cho rằng lợi nhuận có được là do tiêt kiệm chi phí mà còn lưu thông không tạo ra gì cả. Quan điểm này trái ngược với quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, điều đó cho thấy sự hạn chế về mặt xã hội cũng như mặt lý luận trong quá trình nhận thức lợi nhuận về học thuyết và phân tích kinh tế. Đến thời kỳ K.Marx, ông đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế chính trị.
Marx chỉ ra rằng hàng hóa được sản xuất ra mang hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của hàng hóa được sản xuất ra thể hiện qua công thức : Gt = C + V + m Trong đó : Gt : giá trị hàng hóa C : chi phí nhà sản xuất bỏ ra để mua tư liệu sản xuất V : Chi phí thuê nhân công m : Giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là phần giá trị dôi ra ngoài tiền mua sức lao động và do người công nhân làm thuê sáng tạo ra. Như vậy, trong quá trình sản xuất, sức lao động sáng tạo ra giá trị mới lớn hơn phần tiền công lao động, phần dôi ra là giá trị thặng dư. Tuy nhiên, nhà tư bản lấy kết quả tiền thu bán hàng so sánh với chi phí sản xuất.Marx cho rằng, lợi nhuận xét về bản chất là một bộ phận của giá trị thặng dư do người lao động tạo ra và nó chỉ là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư mà thôi.
5 Còn các nhà kinh tế học hiện đại như PA Samuelson lại cho rằng “ lợi nhuận là một khản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu trừ đi tổng số chi ” hay nói cách khác: “lợi nhuận là sự chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định ”. Tóm lại xét về mặt lượng, chúng ta có thể hiểu đơn giản rằng: “ Lợi nhuận là số dư dôi ra so với chi phí ” – đó chính là bản chất của lợi nhuận. Dưới góc độ tài chính, lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. có thể thấy lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ hoạt động của doanh nghiệp.
Như vậy, để xác định được lợi nhuận thu được trong một thời kỳ nhất định ta căn cứ vào hai yếu tố chính là doanh thu và chi phí. Công thức xác định lợi nhuận: Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí 1. Nội dung lợi nhuận. Ngày nay, hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp đều phát triển và mở rộng không ngừng trong khuôn khổ hành lang pháp lý của nhà nước.
các cơ chế chính sách của nhà nước đều nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển đầu tư của doanh nghiệp trong nước cũng như ngoài nước. Do đó phạm vi kinh doanh của mỗi doanh nghiệp trong nền kinhh tế đều được mở rộng, các doanh nghiệp có thể đầu tư vào nhiều hoạt động thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, đa dạng hóa quy mô hoạt động kinh doanh. Chính vì vậy, lợi nhuận thu được từ nhiều hoạt động khác nhau, theo chế độ hiện hành ở nước ta lợi nhuận trong doanh nghiệp gồm hai bộ phận hợp thành : - Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh - Lợi nhuận từ hoạt động khác.1 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận từ hoạt động kinhdoanh là lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được từ hoạt động BH & CCDV và hoạt động tài chính.
Đây thường là bộ phận lợi nhuận chủ 6 yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng mức lợi nhuận doanh nghiệp tạo ra trong một kỳ nhất định, là tiền đề giúp doanh nghiệp thực hiện tích lũy để tái sản xuất kinh doanh mở rộng, hình thành các quỹ khen thưởng, phúc lợi, đấu tư phát triển…Do đó, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Như đã nói ở trên, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bao gồm: - Lợi nhuận từ hoạt động BH & CCDV: Là lợi nhuận thu được do tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ từ các hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp.Lợi nhuận từ hoạt động BH & CCDV thường chiếm tỷ trọng lớn trong lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cũng như trong tổng mức lợi nhuận của doanh nghiệp, phản ánh doanh nghiệp có thực hiện đúng chức năng và nhiệm vụ của mình hay không. - Lợi nhuận từ hoạt động tài chính : là lợi nhuận thu được từ các hoạt động tài chính hoặc kinh doanh về vốn đưa lại. Các hoạt động tài chính trong doanh nghiệp thường là hoạt động liên doanh, liên kết, đầu tư mua bán chứng khoán, thu lãi tiền gửi… Ngày nay trong nền kinh tế thị trường hoạt động tài chính là một hoạt động thường xuyên, cũng là một hoạt động đầu tư mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tận dụng triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi nhằm thu về lợi nhuận tối đa.
Do đó lợi nhuận từ hoạt động tài chính được tính vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ngày càng được doanh nghiệp quan tâm coi trọng.2 Lợi nhuận từ hoạt động khác. Lợi nhuận từ hoạt động khác là những khoản thu từ những hoạt động bất thường mà doanh nghiệp không dự tính trước được hoặc những hoạt động không mang tính chất thường xuyên, không phản ánh bản chất tình hình kinh doanh của doanh nghiệp như: thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, thu từ vi phạm hợp đồng, thu tiền phạt hủy bỏ hợp đồng… Lợi nhuận từ hoạt động khác thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp vẫn cần quan tâm vì nó vẫn ảnh hưởng phần nào đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó gây ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. 7 Việc xem xét kết cấu lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng giúp ta thấy được các hoạt động tạo lợi nhuận và tỷ trọng của từng khoản trong tổng lợi nhuận. Từ đó ta có thể đánh giá kết quả của từng hoạt động, tìm ra các mặt tích cực cũng như tồn tại để đề ra quyết định thích hợp nhằm lựa chọn đúng hướng đầu tư vốn của doanh nghiệp mang lại nhiều hiệu quả hơn.3 Vai trò của lợi nhuận.
Lợi nhuận không chỉ ý nghĩa đối với doanh nghiệp, với người lao động mà với cả toàn xã hội. Để thấy rõ ý nghĩa và tầ quan trọng của lợi nhuận ta xem xét vai trò của nó đối với từng đối tượng sau: Đối với doanh nghiệp Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu chính là để tìm kiếm lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh, là thước đo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Để cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầu của thị trường, các doanh nghiệp phải bỏ ra các chi phí nhất định.
Họ mong muốn hàng hóa và dịch vụ của mình bán được giá cao để bù đắp những chi phí đã bỏ ra, ngoài ra họ còn muốn có một phần lợi nhuận dư thừa để mở rộng và phát triển sản xuất. Do đó, lợi nhuận là mục tiêu, động lực, là lý do để tồn tại và phát triển doanh nghiệp. Lợi nhuận là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó phản ánh cả mặt lượng và mặt chất của quá trình sản xuất kinh doanh.
Kinh doanh tốt sẽ cho lợi nhuận nhiều, khi lợi nhuận nhiều sẽ tạo khả năng để tái đầu tư, tái sản xuất mở rộng, tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Ngược lại, làm ăn kém sẽ dẫn đến thua lỗ và phá sản là tất yếu. Vì vậy, có thể nơi rằng lợi nhuận tối đa là mục tiêu hàng đầu trong hoạt động 8 sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, trong cơ chế thị trường hoạt động của doanh nghiệp phải sinh lợi. Lợi nhuận tác động đến mọi hoạt động của doanh nghiệp, nó ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường vốn kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng quyết định đến hoạt động của doanh nghiệp. Với việc kinh doanh có hiệu quả tạo ra lợi nhuận sẽ giúp doanh nghiệp bù đắp được những chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước và chia cho các chủ thể tham gia liên doanh, phần còn lại sẽ được bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, đầu tư vào việc đổi mới thiết bị và tận dụng được thời cơ trong kinh doanh.