Chương 1. Cơ sở ly luận nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh san phẩm của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Chương 2. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh cho nhóm hàng JACKET của Công ty Cổ phần May 40 xuất khâu sang thị trường Mỹ. Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho nhóm hàng JACKET của Công ty Cổ phần May 40 sang thị trường Mỹ.
15 CHUONG I CO SO LY LUAN NGHIEN CUU NANG CAO NANG LUC CANH TRANH SAN PHAM CUA DOANH NGHIEP SAN XUAT CONG NGHIEP 1. Năng lực cạnh tranh và vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp. Các khái niệm cơ bản. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh từ lâu đã được các học giả kinh tế của các trường phái kinh tế khác nhau quan tâm.
Trường phái tư sản cổ điển quan niệm: cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với năng lực của mình. Theo quan niệm này, cạnh tranh chủ yếu là cạnh tranh về giá, vì thế lý thuyết về giá cả gan chặt với lý thuyết cạnh tranh [17, tr.Mac trong bộ “Tu bản”, khi nghiên cứu sự hình thành lợi nhuận bình quân và sự chuyền hóa giá trị sản phẩm thành giá trị thị trường và giá cả sản xuât, ông cũng đã đê cập đên cạnh tranh găn với quan hệ cung câu sản phâm.Mác chia cạnh tranh thành cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành; cạnh tranh giữa người bán với nhau khi cung lớn hơn cầu và cạnh tranh giữa người mua với nhau khi cung nhỏ hơn cầu. Ở nước ta trong quá trình đổi mới nền kinh tế, đã có sự thay đổi về tư duy, quan niệm và cách thức đối xử với cạnh tranh và độc quyền.
Cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực trong nền kinh tế thị trường. Trong văn kiện của Đại hội X của Đảng cũng đã ghi rõ: “cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau” [23, tr. Thuật ngữ “cạnh tranh” được dùng ở đây là cách gọi của cụm từ “cạnh tranh kinh tế” (Economics Competition)- một dạng của cạnh tranh trong kinh tế thị trường.
Cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển của sản xuất và trao đổi san phẩm. Do đó, hoạt động cạnh tranh gắn liền với sự tác động của các quy luật thị trường, như quy luật giá trị, quy luật cung- cầu. Do cách tiếp cận khác nhau, nên thực tế có nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ảnh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa.
Đó là sự ganh đua giữa các chủ thé nhằm giành được những điều kiện thuận lợi nhất để thu được lợi nhuận siêu ngạch về phía mình. Cạnh tranh còn là phương thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh không quyết định bản chất kinh tế- xã hội của các chế độ xã hội. Tinh chất cạnh tranh bị chi phối bởi bản chất kinh tế- xã hội của các chế độ xã hội đó.
Với quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh được hiểu: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi 17 biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn dé đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thưởng là chiếm lĩnh thị trưởng, giành lấy khách hàng cũng như các điêu kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất” [18, tr. Phân loại cạnh tranh Dưới góc độ các chủ thé kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa người sản xuất với nhau, giữa những người mua và người bán, người sản xuất và người tiêu dùng và giữa những người mua với nhau. Dưới góc độ thị trường thì có hai loại cạnh tranh: cạnh tranh hoàn hảo hay thuần túy và cạnh tranh không hoàn hảo [18, tr. Dưới góc độ các công đoạn sản xuất- kinh doanh, người ta cho rằng có ba loại: cạnh tranh trước khi bán hàng và trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng.
Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thé trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong nội bộ nganh và cạnh tranh giữa các ngành. Ngày nay phát triển cách phân loại trên các nhà kinh tế học chia thành hai hình thức là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang. Xét theo phạm vi lãnh thổ, người ta nói tới cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế. Cạnh tranh sản pham là một bộ phận của cạnh tranh kinh tế, do vậy những tiền đề xây dựng khái niệm cạnh tranh kinh tế cũng có giá trị như là những tiền đề dé nghiên cứu khái niệm cạnh tranh sản phẩm.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm. Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có năng lực cạnh tranh mạnh, người có năng lực cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có năng lực cạnh tranh mạnh, sản phẩm có năng lực cạnh tranh yếu. Năng lực cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh sản pham. 18 Theo nghĩa hẹp quan niệm Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự biểu hiện “tính trội” của sản phẩm về chất lượng, giá cả và hình thức lưu chuyên của nó trên thi trường, tạo nên sức hấp dẫn và thuận tiện cho khách hàng trong việc tiếp cận và sử dụng nó.
Năng lực cạnh tranh có thé được hiểu là khả năng gianh lợi thế, chiếm ưu thé trong cạnh tranh của sản phẩm so với các sản phâm cùng loại trên cùng đoạn thị trường tại cùng thời điểm [18, tr. Theo nghĩa rộng, năng lực cạnh tranh sản phẩm, ngoài những yếu tổ gan với năng lực cạnh tranh san phẩm theo nghĩa hep, còn phải xem các yếu tố khác như các điều kiện sản xuất kinh doanh, các điều kiện gắn với tiêu thụ sản phẩm, các công cụ và biện pháp mà các chủ thê dùng có hiệu quả trong cạnh tranh với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cùng các thuận lợi khác cho mình [18, tr. Với cách đặt van đề trên có thé hiểu khái quát năng lực cạnh tranh sản phẩm theo nghĩa rộng là: Tổng thé các yếu tố gan truc tiép với san pham cùng với các điều kiện, công cụ vả biện pháp cấu thành năng lực cạnh tranh được chủ thé dung trong ganh đua với nhau nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành khách hang và đem lại nhiều lợi ích cho chủ thé tham gia cạnh tranh. Có thể khái quát nội dung năng lực cạnh tranh sản phẩm qua 14 chữ: chất lượng; thông tin; nhanh; mới; nhiều; linh hoạt; lòng tin; noi tiéng; thúc day (khoa học kỹ thuật va quan lý); liên doanh; độc đáo; mạo hiểm; và bán chịu dé thắng trong cạnh tranh [18, tr.
Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vảo quá trình sản xuất và lưu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vượt trội” so với sản phâm cùng loại của đôi thủ cạnh tranh (nêu nó chưa có năng 19 lực cạnh tranh) hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trường tiêu thụ (nếu sản phẩm đã có năng lực cạnh tranh nhưng năng lực cạnh tranh còn yếu). Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhăm khắc phục những tồn tại được coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phâm đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác (chứ không phải so với chính nó), nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh [17, tr. Quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phâm khác với việc hoàn thiện sản pham ở chỗ: hoàn thiện sản phẩm chỉ là quá trình làm cho sản phẩm đó trở nên tốt hơn, có tính mới hơn so với chính nó ở những thời điểm khác nhau. Vì vậy, có trường hợp sản phẩm không hoàn thiện nhưng lại có có sức cạnh tranh do nó có tính trội hơn tương đối khi so sánh một cách tương đối với sản phẩm khác.
Ý nghĩa của việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong điều kiện thương mại hoá. Nâng cao năng lực cạnh tranh đối với từng doanh nghiệp mang ý nghĩa sống còn. Nó giúp doanh nghiệp phát huy được nội lực của mình, phát huy được những lợi thế cạnh tranh của bản thân dé có những quyết định sáng suốt góp phần vào sự phát triển bền vững của công ty. Nâng cao năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc tăng thị phần cho doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ năm thế chủ động trong việc tìm kiếm nhu cầu, thoả mãn nhu cầu và không dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh điều khiển.
Nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên cơ sở giảm chi phí kinh doanh làm tăng số lượng sản phẩm bán ra và tăng lợi nhuận cho công ty. Phần lợi nhuận giúp doanh nghiệp tiến trước đối thủ cạnh tranh một bước, tăng thêm động lực cho toàn thé nhân viên " thành công tiếp nối thành công". 20 Nâng cao năng lực cạnh tranh là động lực giúp công ty có thé tiếp tục tồn tại, phát triển và vươn xa hơn tai thị trường trong và ngoài nước. Công ty càng có nhiều nỗ lực hon dé có thé tạo ra những sản phẩm tốt hon cho khách hàng, giúp khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn.
Ngoài ra việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản pham có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh đối với nền kinh tế quốc dân. Một nền kinh tế năng động, phát trién là một nền kinh tế có sức cạnh tranh lớn. Có năng lực cạnh tranh lớn giúp nền kinh tế quốc dân phát huy được nội lực của toản bộ các tế bào. Vi vậy, có thê đưa ra nhận xét rằng năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp có ý nghĩa sông còn và tác động tương hỗ với chính doanh nghiệp và với cả toàn bộ nên kinh tế quốc dân.