CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH BỔI DƯỠNG “ CÁN BỘ KỸ THUẬT” I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nguồn nhân lực (Human resource)1 • Theo Từ điển thuật ngữ của Liên xô (trước đây): “Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động dưới dạng tích cực (đang lao động) và tiềm tàng (có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động) • Theo Tổng cục thống kê Việt Nam: “Nguồn nhân lực gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc, những người thuộc các tình trạng khác như nghỉ hưu trước tuổi. Phát triển nguồn nhân lực ( Human resource development) • Nghĩa hẹp: đó là quá trình giáo dục, đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để mỗi con người có cơ hội tìm việc làm, hoặc hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ mà họ đang làm.
• Theo lý thuyết về Tư bản Người ( Huaman Capitial Theory): Khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao gồm cả yếu tố sử dụng nhân lực một cách đúng đắn, tạo môi trường lao động phù hợp và thuận lợi để mỗi con người lao động có hiệu quả. • Theo Gary Becker và R. Nonan: “Phát triển nguồn nhân lực là làm cho con người trở thành tài sản có giá trị hơn trong sự nỗ lực chung để cùng nhau chung sống và làm việc” 1 đđĐào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế- Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha, sách đã dẫn trang 14 HVTH: Huỳnh Ngọc Nga 9 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: Hoàng Tâm Sơn Tóm lại có thể nêu khái niệm về phát triển nguồn nhân lực như sau: “Phát triển nguồn nhân lực là phát triển nhân cách, sinh thế/thể lực, đồng thời tạo dựng một môi trường xã hội thuận lợi, gìn giữ một môi trường sinh thái bền vững cho con người phát triển để cùng nhau lao động và chung sống, nhằm đạt mục tiêu phục vụ cho sự phát triển bền vững của xã hội và phục vụ cho con người. Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước Nhiệm vụ cơ bản là phải cung cấp Lao động Kỹ thuật để đáp ứng cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội.
Vì vậy hệ thống đào tạo phải thường xuyên bám sát nhu cầu của thị trường lao động, nắm bắt kịp thời được sự thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo của đội ngũ nhân lực để đáp ứng yêu cầu của cả nước, từng vùng, miền trong quá trình CNH, HĐH. Giáo dục không chính quy: Phương thức giáo dục giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội. Nội dung giáo dục không chính quy phải đảm bảo tính thiết thực giúp người học, học nâng cao hiểu biết, nâng cao khả năng lao động, sản xuất, công tác và chất lượng cuộc sống3 5. Bồi dưỡng: Trang bị thêm các kiến thức, kỹ năng nhằm mục đích nâng cao và hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể.
Nghề 5 Là nghề nghiệp trong phạm vi hẹp, cụ thể và chuyên sâu. 2 đđĐào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế- Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha, sách đã dẫn trang 16 3 Từ điển giáo dục học.- Nxb từ điển Bách Khoa trang 136 4 Từ điển giáo dục học.- Nxb từ điển Bách Khoa trang 30 5 , Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 HVTH: Huỳnh Ngọc Nga 10 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: Hoàng Tâm Sơn 7. Phân tích nghề 6 Một tiến trình nhằm xác định các nhiệm vụ và công việc mà một công nhân lành nghề phải thực hiện được trong nghề nghiệp của mình. Mô đun7 Tập hợp một số công việc có liên quan với nhau nhằm cung cấp một số kiến thức và kỹ năng để người học có thể hành nghề ngay trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp của nghề hoặc một vị trí nhất định của sản xuất.
Nhiệm vụ 8 Một trong những hoạt động hoặc nhóm công việc chủ yếu nằm trong một nghề. Một nhóm các công việc tương tự hoặc có liên quan được sắp xếp một cách thuận tiện hoặc tùy ý. Công việc 9 Một bộ phận cụ thể quan sát được của một việc làm, bản thân đã hoàn tất (có một khởi điểm và một kết thúc xác định), có thể chia nhỏ thành 2 hay nhiều bước và được thực hiện trong một khoảng thời gian qui định, đến khi hoàn tất sẽ duới dạng một sản phẩm, một dịch vụ hoặc một quyết định. Phân tích công việc 10 Phương pháp phân tích để xác định các bước cần diễn ra để thực hiện được công việc đó, các kiến thức có liên quan mà người thợ cần biết và các tiêu chuẩn mà giới sản xuất đòi hỏi cho việc thực hiện công việc.
DACUM 11 Đây là một phương pháp phân tích nghề, qua đó một tiểu ban gồm các chuyên gia lành nghề được tập hợp và dẫn dắt bởi một thông hoạt viên đã được đào tạo để cùng nhau xác định cụ thể và chi tiết các nhiệm vụ và công việc mà các công nhân lành nghề phải thực hiện trong nghề nghiệp của họ. 6 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 7 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 8 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 9 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 10 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 11 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 HVTH: Huỳnh Ngọc Nga 11 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: Hoàng Tâm Sơn 13. Tiêu chí12 Tiêu chuẩn đòi hỏi ở người công nhân nhằm đạt tới việc thực hiện thành thạo một mục tiêu công việc. Tiêu chuẩn thực hiện13 Các tiêu chí được áp dụng trong một nghề dùng để xác định xem một công việc đã được thực hiện một cách thỏa đáng hay chưa.
Chương trình Thuật ngữ chương trình học - Curriculum xuất phát từ tiếng Latin là currere, có nghĩa là dạy, điều hành một khóa học. Từ đó theo định nghĩa truyền thống thì chương trình học có nghĩa là một khóa học (course of study). Tuy nhiên có rất nhiều quan niệm khác nhau về chương trình học. • “Một nhóm có hệ thống các khóa học hoặc trình tự các môn học đòi hỏi sự tốt nghiệp hay chứng nhận trong một lĩnh vực học tập, ví dụ như chương trình khoa học xã hội, chương trình giáo dục thể chất…”14 • “Như một kế hoạch nhằm cung cấp tập hợp các cơ hội học tập cho mọi người để họ được thụ hưởng nền giáo dục đó”15.
Tất cả các chương trình học, dù là được thiết kế theo cách nào, đều bao gồm những yếu tố xác định. Một chương trình học thường có một tuyên bố về các mục đích và mục tiêu cụ thể: Nó chỉ ra một số lựa chọn và cấu trúc của nội dung; hoặc ám chỉ hoặc biểu lộ các kiểu học tập và giảng dạy nhất định do các mục tiêu đòi hỏi chúng hoặc do cơ cấu nội dung yêu cầu chúng. Cuối cùng nó bao gồm cả một hệ thống đánh giá kết quả. • “Một chương trình học là một kế hoạch cho học tập”16 Trong phạm vi luận văn này thì Chương trình học có thể hiểu như một kế hoạch hay một chương trình bao gồm những kinh nghiệm của người học có được dưới sự hướng dẫn của nhà trường.
Chương trình học có thể là một bài học, một 12 Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 13 T Sổ tay xây dựng chương trình SVTC- trang 10 14 Từ điển giáo dục do Carter V.Good biên tập (New Yor: McGraw-Hill,1973) trang 157 15 J.Gaylen Saylor, William M. Alexander và Arthur J.Lewis, kế hoạch Xây dựng chương trình cho việc dạy và học tốt hơn (New York: Holt, Rinehart và Winston, 1981), trang 8. 16 Hild Taba, Xây dựng chương trình: Lí thuyết và Thực hành (New York:Harcourt Brace Jovanovich, 1962) t.11 HVTH: Huỳnh Ngọc Nga 12 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: Hoàng Tâm Sơn khóa học hay toàn bộ chương trình học của nhà trường - và có thể diễn ra bên ngoài lớp học hay bên ngoài nhà trường dưới sự hướng dẫn của giáo viên. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH Để đảm bảo chương trình đào tạo hay bồi dưỡng đạt yêu cầu ngoài nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức đào tạo hay bồi dưỡng, người biên soạn chương trình còn cần phải nghiên cứu các quan điểm tiêp cận, các mô hình cũng như các phương pháp xây dựng chương trình khác nhau để chọn ra hướng đi phù hợp nhất và hiệu quả nhất đối với chương trình sẽ được xây dựng; đồng thời phải tuân thủ theo một quy trình nhất định.
Xu hướng tiếp cận chương trình trên thế giới17 Theo quan điểm của của các nước thì trên thế giới hiện đang có 3 cách tiếp cận chương trình: 1.1 Tiếp cận theo các chương trình chuẩn Cách tiếp cận này dựa vào thời gian chuẩn, khối lượng kiến thức chuẩn, khả năng tay nghề chuẩn để xây dựng chương trình. Mục tiêu của chương trình là nội dung kiến thức và khả năng tay nghề. Cách đánh giá kết quả học tập của cách tiếp cận này là xác định lượng kiến thức hoặc kỹ năng nghề mà người học hấp thụ được. Nhược điểm của cách tiếp cận này là tính cập nhật kém, không gắn liền được nhu cầu của thị trường lao động.
Do vậy, người học ra trường dù có kết quả học tập tốt cũng khó có thể đáp ứng ngay được với công việc mà người sử dụng lao động đòi hỏi, mà thường phải đào tạo lại. Chính vì những lý do trên mà nhiều quốc gia và các trường học trên thế giới không dùng phương pháp tiếp cận này để xây dựng chương trình nữa. 17 Nguyễn Đình Bảng và Trương Hoành Sơn, bài giảng khóa học phát triển chương trình (Ban đào tạo nghề văn phòng Lao động quốc tế GENEVA) trang 1. HVTH: Huỳnh Ngọc Nga 13 Luan van Luận văn thạc sĩ GVHD: Hoàng Tâm Sơn 1.2 Tiếp cận các chương trình theo định hướng phát triển Cách tiếp cận này, chương trình luôn bám sát các bước tiến của công nghệ và trang thiết bị.
Mục tiêu và nội dung chương trình được đề ra trên cơ sở các trang thiết bị, công nghệ, yêu cầu của người sử dụng lao động, và nhu cầu của người học.