Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CÔNG CỤ TÀI CHÍNH PHÁI SINH PHÒNG NGỪA RỦI RO TRONG CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và những rủi ro trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Hoạt động kinh doanh XNK cũng giống như hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong nước. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh XNK diễn ra trên thị trường quốc tế nên có độ phức tạp hơn [Trường đại học ngoại thương, 2012].
Những đặc điểm chủ yếu có thể thấy là: + Hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được tiến hành với đối tác ở nước ngoài: nghĩa là việc buôn bán diễn ra giữa các đối tác có ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo khác nhau; hàng hóa được chuyển từ trong nước ra nước ngoài hoặc ngược lại, đòi hỏi bao bì, ký mã hiệu phải tuân theo tiêu chuẩn quốc tế, bền chắc để có thể chuyển tải qua nhiều phương thức vận tải, nhiều phương tiện vận chuyển khác nhau. Nội dung của hợp đồng phải cụ thể, phải thể hiện ý chí của cả hai bên và theo mẫu quy định của hoạt động thương mại quốc tế. + Buôn bán quốc tế phải theo chuẩn mực quốc gia và quốc tế: tập quán, pháp luật của bên mua và bên bán là khác nhau. Do vậy các DN XNK phải tuân thủ luật kinh doanh cũng như tập quán kinh doanh của từng nước và luật thương mại quốc tế.
+ Thời gian: thời gian lưu chuyển hàng hóa XNK bao giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hóa trong hoạt động kinh doanh nội địa do phải thực hiện hai giai đoạn mua hàng và hai giai đoạn bán hàng. Đối với hoạt động xuất khẩu là mua ở thị trường trong nước bán cho thị trường ngoài nước, còn đối với hoạt 123doc 7 động nhập khẩu là mua hàng hóa của nước ngoài và bán cho thị trường nội địa. Do đó để xác định kết quả hoạt động kinh doanh XNK, người ta chỉ xác định khi hàng hóa đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện xong 1 thương vụ ngoại thương [Nguyễn Thị Quy, 2008]; thời gian giao, nhận hàng và thời điểm thanh toán tiền hàng thường không trùng nhau mà có khoảng cách kéo dài. + Hàng hóa kinh doanh XNK: bao gồm nhiều loại trong đó xuất khẩu chủ yếu những mặt hàng có thế mạnh trong nước (hàng nông sản, thủy sản, hàng thủ công mỹ nghệ.), còn nhập khẩu chủ yếu những mặt hàng mà trong nước không có, chưa sản xuất được hoặc sản xuất chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng, chất lượng, thị hiếu (hàng tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng.
+ Phương thức thu nợ, thanh toán trong hoạt động kinh doanh XNK: phức tạp và đa dạng hơn so với kinh doanh trong nước, đòi hỏi các nhà kinh doanh tùy điều kiện phải lựa chọn được đồng tiền thanh toán, các hình thức thanh toán bảo vệ quyền lợi của mình và thực hiện được hợp đồng. Hiện nay, phương thức thanh toán chủ yếu được sử dụng là phương thức thanh toán bằng thư tín dụng [Nguyễn Thị Quy, 2011]. Rủi ro trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu 1. Khái niệm rủi ro Những định nghĩa về rủi ro rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn, đó là trường phái truyền thống và hiện đại.
Rủi ro (theo trường phái hiện đại) là sự bất ổn về tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán hay một danh mục, hơn nữa rủi ro phản ánh một sự không chắc chắn trong tương lai. Rủi ro (theo trường phái truyền thống) là những kết quả nhận ít hơn mong đợi trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, 123doc 8 đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai [Nguyễn Thị Ngọc Trang, 2012]. Tóm lại, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn về kết quả tài chính do phụ thuộc vào các yếu tố môi trường hoạt động của DN trong tương lai.
Phân loại rủi ro Khi hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh, các DN XNK phải đối mặt với rất nhiều rủi ro có thể kiểm soát và không thể kiểm soát được. Tuy nhiên, luận văn này chỉ sẽ đề cập đến những rủi ro chủ yếu sau: (1) Rủi ro tỷ giá Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, nên các DN XNK không thể tránh khỏi sự ảnh hưởng của biến động tỷ giá. Sự ảnh hưởng của tỷ giá có thể theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực, nếu ảnh hưởng tiêu cực có thể làm cho tài sản, vốn chủ sở hữu, doanh thu và lợi nhuận giảm đi, đồng thời làm cho Nợ phải trả, chi phí và các khoản lỗ tăng lên [Nguyễn Minh Kiều, 2008]. Điều này tác động rất xấu đến các chỉ số tài chính.
Chính vì vậy, các DN luôn tìm cách hạn chế đến mức thấp nhất loại rủi ro này. Đối với lãi suất thả nổi, DN đi vay sẽ phải chịu tác động của lãi suất thị trường lên chi phí đi vay do lãi suất thị trường luôn thay đổi. Đối với lãi suất vay cố định, DN đi vay sẽ chịu tác động của lãi suất thị trường lên giá trị của khoản nợ vay theo sự thay đổi của nó. Do đó, DN rất khó kiểm soát sự biến động của giá cả hàng hóa, nhất là đối với DN XNK.
Giá 123doc 9 cả hàng hóa tác động đến doanh thu, chi phí và dòng tiền dự tính. Do đó giá cả hàng hóa cũng là một rủi ro của DN. Sự biến động về tỷ giá, giá cả hàng hóa và sự thay đổi lãi suất ngoài việc ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí và lợi nhuận nó còn ảnh hưởng đến tài sản, Nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, từ đó ảnh hưởng đến tính hình tài chính của DN. Phân tích rủi ro Cho dù DN có đang gặp phải rủi ro hay không thì việc phân tích rủi ro luôn là một nguyên tắc cơ bản giúp DN quản trị và vượt qua những rủi ro khi gặp phải.
Việc phân tích rủi ro một cách khoa học, đúng đắn sẽ giúp DN đưa ra các quyết định cần thiết để giảm thiểu những bất lợi đến tình hình hoạt động của DN. (1) Phân tích rủi ro tỷ giá Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai, đây là loại rủi ro có thể phát sinh trong nhiều hoạt động khác nhau của DN như hoạt động đầu tư, hoạt động XNK và hoạt động tín dụng. Trong hoạt động XNK, rủi ro tỷ giá là loại rủi ro thường xuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các DN có hoạt động XNK mạnh [Nguyễn Minh Kiều, 2008]. Sự thay đổi tỷ giá làm thay đổi giá trị kỳ vọng của các khoản thu hoặc chi ngoại tệ trong tương lai khiến cho hiệu quả hoạt động XNK bị ảnh hưởng.
(2) Phân tích rủi ro lãi suất DN đi vay vốn với lãi suất cố định trong khi lãi suất thị trường luôn biến động, nếu lãi suất thị trường biến động theo chiều hướng đi lên thì DN có lợi nhưng nếu lãi suất thị trường biến động theo chiều hướng đi xuống thì DN gặp phải rủi ro. DN đi vay vốn với lãi suất thả nổi và lãi suất này thường xuyên biến động theo sự biến động của lãi suất thị trường, nếu lãi suất thị trường biến động theo chiều hướng đi lên thì DN gặp bất lợi tương đối và ngược lại nếu lãi suất thị trường biến động đi xuống thì DN có lợi tương đối. 123doc 10 (3) Phân tích rủi ro giá cả hàng hóa Rủi ro giá cả xuất hiện khi giá hàng hóa đầu ra giảm xuống thấp hoặc giá hàng hóa đầu vào tăng cao. Các DN XNK thường được đo lường rủi ro giá cả hàng hóa bằng biến động giá XNK và có thể được giảm nhẹ bằng các biện pháp phòng chống hiệu quả [Nguyễn Thị Ngọc Trang, 2012].
Do đó, các DN XNK cần phải có những thông tin, kiến thức cơ bản, thiết thực về phương thức sử dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro giá cả hàng hóa, cũng như hiểu rõ những thủ tục đăng ký cần thiết để áp dụng tại DN mình về bảo hộ rủi ro. Bên cạnh đó, việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro toàn diện đáp ứng yêu cầu riêng biệt của mỗi DN cũng cần được quan tâm. Khái quát chung về công cụ tài chính phái sinh 1. Khái niệm và vai trò của công cụ tài chính phái sinh Theo IAS số 32 – CCTC-Trình bày: CCTCPS là những CCTC được phát hành trên cơ sở những CCTC đã có nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận [International Accounting Standards 32 Financial Instruments].
Theo IAS số 39 – CCTC-Ghi nhận và xác định giá trị: CCTCPS là một CCTC hay một hợp đồng thỏa mãn đồng thời cả ba đặc điểm sau [International Accounting Standards 39 Financial Instruments]: + Có giá trị thay đổi để đáp ứng sự thay đổi của các yếu tố trên thị trường: Lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hóa, giá chứng khoán, xếp hạng tín dụng… + Không yêu cầu đầu tư thuần ban đầu hoặc chỉ yêu cầu đầu tư thuần ban đầu thấp hơn so với các loại hợp đồng khác có các phản ứng tương tự đối với sự thay đổi của các yếu tố thị trường. + Được thanh toán vào một ngày trong tương lai. Theo IFRS số 9 – CCTC, CCTCPS chìm (embedded derivatives) là một bộ phận hợp thành của một hợp đồng phức hợp mà nó có hợp đồng chủ là phi phái sinh. CCTCPS chìm này khiến cho một vài hay tất cả luồng tiền của hợp đồng phức 123doc 11 hợp thay đổi tương tự công cụ phái sinh, tức thay đổi theo lãi suất, giá hàng hóa, tỷ giá hối đoái, chỉ số giá, xếp hạng tín dụng.
Chẳng hạn như, trái phiếu chuyển đổi là một công cụ tài chính phức hợp bao gồm hợp đồng chủ phi phái sinh là trái phiếu thông thường và công cụ phái sinh chìm là quyền chuyển đổi trái phiếu [International Financial Reporting Standard 9]. CCTCPS xuất hiện lần đầu tiên với vai trò là công cụ giúp giảm thiểu hoặc loại bỏ rủi ro. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, các DN, nhà đầu tư không chỉ sử dụng CCTCPS để phòng ngừa rủi ro mà còn cho mục đích kinh doanh, đầu cơ [International Accounting Standards 32 Financial Instruments].