mở đầu giới thiệu lý do cần thiết thực hiện bài nghiên cứu, các đối tượng nghiên cứu, phương pháp thực hiện, dữ liệu sử dụng trong khuôn khổ phạm vi đưa ra, để từ đó trả lời được các câu hỏi nghiên cứu và hướng tới làm sáng tỏ những mục tiêu mà bài nghiên cứu mong muốn sẽ có ý nghĩa thực tiễn. 123doc 4 Chương 2: trình bày tổng quan về khung lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm liên quan tới các nghiên cứu trước đây để làm cơ sở nền tảng đưa ra các phương pháp tiếp cận và giải quyết các vấn đề nghiên cứu. Chương 3: mô tả các phương pháp nghiên cứu và dữ liệu sử dụng bao gồm việc thu thập dữ liệu và tính toán số liệu. Chương 4: kết quả nghiên cứu của các phương pháp sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các nhân tố trong trường hợp Việt Nam.
Chương 5: kết luận kết quả nghiên cứu và đưa ra một số thảo luận, đề xuất về hướng áp dụng thực tiễn. 123doc 5 ƣơng 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. ác địn ng ĩa l ên quan 2. Tỷ giá hố đoá ịn ng ĩa Tỷ giá hối đoái đo lường giá trị của một đồng tiền trên một đơn vị đồng tiền khác.
Theo Luật NHNN Việt Nam năm 2010 định nghĩa “TGHĐ của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam. TGHĐ của đồng Việt Nam được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước”. Có 2 cách niêm yết TGHĐ danh nghĩa là yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp. Yết giá trực tiếp thể hiện số đồng tiền nội tệ trên một đơn vị đồng tiền ngoại tệ.
Yết giá gián tiếp thể hiện số đồng ngoại tệ trên một đơn vị đồng tiền nội tệ. Trong bài luận văn này, khi đề cập đến TGHĐ nếu không nói gì đến cách yết giá thì mặc nhiên xem là yết giá trực tiếp. Phân loại Việc xác định TGHĐ của một đồng tiền nội tệ có thể dựa theo một đồng tiền ngoại tệ hoặc theo một rổ tiền tệ gồm nhiều đồng tiền ngoại tệ. Khi dựa theo một đồng tiền ngoại tệ, có hai loại tỷ giá như sau: Một là TGHĐ danh nghĩa song phương (NER), thể hiện giá cả một đơn vị tiền tệ của một nước được tính bằng tiền của nước khác, hay nói cách khác là số lượng đơn vị tiền tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ.
Một sự tăng trong TGHĐ có nghĩa là đồng tiền ngoại tệ lên giá và đồng tiền nội tệ mất giá. Ngược lại một sự giảm trong TGHĐ có nghĩa là đồng tiền nước ngoài giảm giá và đồng tiền nội tệ lên giá. Hai là TGHĐ thực song phương (RER), là tỷ lệ giữa giá hàng hóa, dịch vụ nước ngoài P* so với giá hàng hóa, dịch vụ trong nước P. 123doc 6 RER được dùng để đo lường sức mua của hàng hóa, dịch vụ trong nước so với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài.
Nếu RER =1 thì có ngang giá sức mua giữa hàng hóa, dịch vụ hai quốc gia. Nếu RER >1 thì hàng hóa, dịch vụ trong nước tăng sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Nếu RER <1 thì hàng hóa, dịch vụ trong nước kém sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa, dịch vụ nước ngoài. Khi dựa theo một rổ tiền tệ gồm nhiều đồng tiền nƣớc ngoài, có hai loại tỷ giá n ƣ sau: Một là TGHĐ danh nghĩa đa phương (NEER), là chỉ số tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền nội tệ so với đồng tiền của các quốc gia được lựa chọn.
Một sự tăng trong NEER cho thấy đồng tiền nội tệ mất giá, một sự giảm trong NEER cho thấy đồng tiền nội tệ lên giá. Chú ý đang xét theo cách yết giá trực tiếp. NEER được xác định như sau: ∑ Trong đó: là chỉ số tỷ giá danh nghĩa của ngoại tệ thứ j tại thời kỳ i so với kỳ gốc là tỷ giá danh nghĩa của đồng ngoại tệ thứ j trong rổ ngoại tệ tại thời kỳ i là tỷ giá danh nghĩa của đồng ngoại tệ thứ j trong rổ ngoại tệ tại thời kỳ gốc là tỷ trọng thương mại của các nước có đồng tiền tham gia vào rổ ngoại tệ Hai là tỷ giá hối đoái thực đa phương (REER), là chỉ số thể hiện TGHĐ danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh theo lạm phát, thể hiện sức cạnh tranh của 123doc 7 hàng hóa trong trước với hàng hóa của các quốc gia có đồng tiền tham gia vào rổ ngoại tệ. Nếu REER=1 thì có ngang giá sức mua giữa hàng hóa, dịch vụ trong nước và các quốc gia có đồng tiền tham gia vào rổ ngoại tệ.
Nếu REER>1 thì hàng hóa, dịch vụ trong nước tăng sức cạnh tranh hơn so với hàng hóa, dịch vụ các quốc gia có đồng tiền tham gia vào rổ ngoại tệ. Và đồng nội tệ bị định giá thấp. Nếu REER<1 thì hàng hóa, dịch vụ trong nước kém sức cạnh tranh hơn so với so với hàng hóa, dịch vụ các quốc gia có đồng tiền tham gia vào rổ ngoại tệ. Và đồng nội tệ bị định giá cao.
REER được xác định như sau: ∑ Trong đó: là chỉ số giá điều chỉnh của đối tác j tại thời kỳ i là chỉ số giá điều chỉnh của quốc gia tại thời kỳ i Chỉ số giá điều chỉnh là chỉ số giá được chuẩn hóa theo năm gốc Biến động tỷ giá hố đoá Biến động TGHĐ xảy ra khi giá trị của một trong hai đồng tiền thành phần thay đổi. Khi tỷ giá giao ngay tại hai thời điểm cụ thế được so sánh với nhau, tỷ giá giao ngay tại thời điểm hiện tại ký hiệu là St và tỷ giá giao ngay tại thời điểm trước đó ký hiệu là St-1thì tỷ lệ % thay đổi trong giá trị của ngoại tệ được tính toán như sau: Một tỷ lệ % thay đổi dương cho thấy đồng ngoại tệ tăng giá, đồng nội tệ mất giá và ngược lại (theo yết giá trực tiếp). Cán cân thanh toán quốc tế CCTT quốc tế là một công cụ để đo lường tất cả các giao dịch quốc tế phát sinh giữa người dân trong nước và người nước ngoài qua một thời kỳ nhất định. Về bản chất CCTT quốc tế là một báo cáo dòng tiền lưu thông vào và ra khỏi một nền kinh tế.
Cấu trúc CCTT quốc tế được mô tả như sau: Cán cân Cán cân Cán cân Dữ trữ Cán cân tài khoản tài khoản tài khoản + + + ngoại hối = thanh toán (*) vãng lai vốn tài chính (FXR) quốc tế (X-N) (CI-CO) (FI-FO) Với: X là xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ M là nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ CI là dòng vốn chảy vào CO là dòng vốn chảy ra FI là dòng tài chính chảy vào FO là dòng tài chính chảy ra FXR là lượng dự trữ ngoại hối gồm cả vàng Phương trình (*) trên cho thấy mối quan hệ giữa CCTT quốc tế và giá trị đồng tiền nôi tệ của một quốc gia. Nếu đồng tiền nội tệ của quốc gia tăng giá so với đồng tiền của các nước khác thì nếu các yếu tố khác không đổi, hàng hóa xuất khẩu từ quốc gia này sẽ trở nên mắc hơn đối với các nước nhập khẩu nếu đồng tiền của họ mạnh, nhu cầu các hàng hóa xuất khẩu giảm, cán cân tài khoản vãng lai giảm. Ngược lại nếu đồng nội tệ của một quốc gia giảm giá thì cán cân tài khoản vãng lai tăng. Tuy vậy sự tăng giá hay giảm giá nội tệ của quốc gia đó có thể làm ảnh hưởng đến cán cân tài khoản tài chính khi các nhà đầu tư vào chứng khoán xem sự biến động giá trị đồng tiền nội tệ là một trong những yếu tố tác động đáng kể đến giá chứng khoán mà họ dự tính đầu tư vào.
Nếu đồng tiền nội tệ của một quốc gia được dự kiến tăng 123doc 9 giá, các NĐTNN có thể sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán của nước đó để hưởng lợi từ các biến động tiền tệ. Ngược lại cán cân tài khoản tài chính của quốc gia dự kiến sẽ giảm nếu đồng tiền nội tệ của quốc gia đó dự kiến suy yếu khi các yếu tố khác không đổi. Như vậy khi giá trị đồng tiền nội tệ thay đổi thì hoặc cán cân tài khoản vãng lai hoặc cán cân tài khoản tài chính hoặc có thể cả hai bị ảnh hưởng, từ đó tác động đến CCTT quốc tế. Chỉ số giá thị trƣờng chứng khoán Chỉ số giá TTCK là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu, được tổng hợp từ danh mục các cổ phiếu theo một phương pháp tính nhất định.
Chỉ số này phản ảnh tình hình hoạt động của các công ty trên thị trường. Nếu các công ty làm ăn có lãi, giá chứng khoán của các công ty đó sẽ tăng và làm chỉ số chứng khoán tăng. Ngược lại nếu các công ty làm ăn lỗ thì sẽ làm chỉ số chứng khoán giảm. Dựa vào chỉ số chứng khoán, các nhà đầu tư có thể xác định được hiệu quả của danh mục chứng khoán để đầu tư vào.
Khung lý thuyết và các kết quả nghiên cứu liên quan Trong các tài liệu tài chính, khi đề cập về bản chất và hướng của mối quan hệ giữa giá trị đồng tiền nội tệ và chỉ số giá TTCK thì kết luận vấn đề vẫn chưa thấy có sự đồng thuận về mặt lý thuyết hoặc thực nghiệm. Hiện nay có hai cách tiếp cận lý thuyết phổ biến là từ mô hình hướng theo dòng chảy và từ mô hình hướng theo chứng khoán. Mô hình hướng theo dòng chảy (Flow-oriented model) được Dornbusch & Fischer (1980) tiếp cận khi cho rằng TGHĐ chủ yếu được xác định bởi CCTM hoặc cán cân tài khoản vãng lai của quốc gia và sự thay đổi khả năng cạnh tranh quốc tế mà thể hiện qua tình trạng CCTT sẽ làm chỉ số giá TTCK thay đổi, vì chỉ số giá TTCK đại diện cho hiện giá dòng tiền trong tương lai đổ vào TTCK. Mô hình cho thấy chỉ số giá TTCK phản ứng với sự thay đổi của TGHĐ và tồn tại một mối quan hệ nhân quả chạy từ thị trường tiền tệ sang TTCK.
Khi TGHĐ biến động, ví dụ TGHĐ tăng, giá trị đồng tiền nội tệ mất giá, kích thích xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế, CCTM và 123doc 10 CCTT bị ảnh hưởng theo hướng được cải thiện tốt hơn, hệ quả tác động làm chỉ số giá TTCK tăng lên.