Tổng quan nghiên cứu
Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa giữ vai trò động lực đặc biệt quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, hàng năm đóng góp từ 26% đến 28% GDP cả nước và trực tiếp tạo sinh kế cho gần 3 triệu lao động trong khu vực kinh tế tư nhân. Mặc dù sở hữu mức độ năng động cao và khả năng thích ứng linh hoạt, khối doanh nghiệp này vẫn phải đối mặt với một môi trường kinh doanh nhiều rào cản, bất cập về thể chế pháp lý, khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn và sự phân biệt đối xử so với khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện toàn diện các nhân tố tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, phân tích thực trạng khung khổ chính sách giai đoạn trước và sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện môi trường kinh doanh với tầm nhìn đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế Việt Nam với trọng tâm là ba vùng kinh tế động lực gồm Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, đặt trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế từ năm 1990 đến giai đoạn cải cách sâu rộng sau năm 2000.
Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa các rào cản thể chế, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách hỗ trợ theo tinh thần Nghị định 90/2001/NĐ-CP, thúc đẩy tỷ trọng đóng góp của kinh tế tư nhân vượt ngưỡng 30% GDP và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng khung phân tích môi trường kinh doanh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới công bố năm 2000, phân tách môi trường thành hai cấp độ vĩ mô và vi mô. Ở cấp độ vĩ mô, nghiên cứu xem xét thể chế chính trị, khuôn khổ pháp luật, chính sách tiền tệ và hệ thống thuế. Ở cấp độ vi mô, tác giả tập trung vào các điều kiện nhân tố sản xuất như vốn, nguồn nhân lực, mặt bằng sản xuất và công nghệ.
Đồng thời, mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Michael Porter được tích hợp để giải thích áp lực cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành, nguy cơ từ sản phẩm thay thế và sức ép từ nhà cung ứng đối với khu vực tư nhân.
Nghiên cứu cũng làm rõ ba giai đoạn phát triển điển hình của doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm giai đoạn khởi sự thành lập, giai đoạn mở rộng sản xuất và giai đoạn chuyển đổi quy mô.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa được chuẩn hóa theo quy định tại Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP, xác định là các cơ sở sản xuất kinh doanh có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người.
Bên cạnh đó, các khái niệm then chốt như cạnh tranh không lành mạnh và nguyên tắc quản lý "tiền đăng hậu kiểm" được làm sáng tỏ nhằm làm nền tảng đánh giá sự chuyển dịch môi trường kinh doanh.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa dạng, bao gồm hệ thống dữ liệu thứ cấp từ Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, các báo cáo chuyên đề của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, tài liệu phân tích của Vụ Doanh nghiệp thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng dữ liệu đánh giá từ Sáng kiến Miyazawa với gói cam kết hỗ trợ tài chính 20 tỷ Yên từ Chính phủ Nhật Bản.
Dữ liệu khảo sát thực chứng bao gồm bộ mẫu khảo sát 1.000 doanh nghiệp nhỏ về mức độ tiếp cận nguyên phụ liệu địa phương và cơ sở dữ liệu điều tra toàn diện trên 1.683 đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh trên phạm vi cả nước.
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng theo tiêu chí vùng lãnh thổ và ngành nghề kinh doanh trọng điểm để bảo đảm tính đại diện cao.
Nghiên cứu lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả kết hợp phân tích so sánh định tính và định lượng qua các mốc thời gian trước và sau năm 2000. Phương pháp này giúp phản ánh chính xác tác động thực tế của việc đổi mới chính sách pháp luật đối với hành vi và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự phân bổ bất cân xứng sâu sắc về mặt địa lý và tỷ trọng đóng góp kinh tế giữa các vùng lãnh thổ. Khu vực miền Nam chiếm ưu thế tuyệt đối khi vùng Đông Nam Bộ đóng góp tới 51,46% tổng doanh thu của kinh tế tư nhân cả nước và tập trung 53,59% tổng số công ty cổ phần. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 40,14% tổng số doanh nghiệp tư nhân và 22,08% tổng doanh thu, trong khi vùng miền núi trung du chỉ đóng góp vỏn vẹn 3,17% doanh thu toàn ngành.
Thứ hai, việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định 57/1998/NĐ-CP đã tạo bước ngoặt tăng trưởng đột phá. Số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh tham gia xuất khẩu trực tiếp đã tăng gấp 9 lần, từ mức 500 doanh nghiệp lên tới 4.500 doanh nghiệp, đưa kim ngạch xuất khẩu của khu vực tư nhân đạt mốc 250 triệu USD vào năm 1998. Tại các đô thị lớn, số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký thành lập mới sau năm 2000 đã tăng gấp 7 đến 8 lần so với giai đoạn trước.
Thứ ba, cơ cấu ngành nghề của khu vực tư nhân tập trung chủ yếu vào lĩnh vực thương nghiệp và dịch vụ sửa chữa với 46,4%, tiếp đến là công nghiệp chế biến với 22,17%. Khảo sát 1.000 doanh nghiệp nhỏ ghi nhận có tới 80% nguồn nguyên liệu được cung ứng tại chỗ ở địa phương. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp vẫn phải vận hành với công nghệ lạc hậu hơn mức bình quân thế giới từ 3 đến 4 thế hệ do thiếu hụt vốn đầu tư và bị khống chế trần chi phí quảng cáo ở mức 7% vốn.
Thảo luận kết quả
Thực trạng phân bố doanh thu và cơ cấu tổ chức có thể được khái quát trực quan qua biểu đồ cơ cấu tỷ trọng doanh thu theo vùng kinh tế và bảng ma trận thể chế thuế. Dữ liệu cho thấy khu vực tư nhân từng chịu áp lực nặng nề từ hệ thống thuế gián thu chiếm 53,3% tổng thu ngân sách năm 1998, cùng 4 thang thuế suất giá trị gia tăng từ 0% đến 20% và 4 bậc thuế thu nhập doanh nghiệp từ 15% đến 32%.
Nguyên nhân cốt lõi khiến môi trường kinh doanh chậm cải thiện xuất phát từ tư duy phân biệt đối xử kéo dài giữa các thành phần kinh tế. Doanh nghiệp nhà nước duy trì vị thế độc quyền, dễ dàng tiếp cận đất đai và được vay vốn ngân hàng không cần tài sản thế chấp, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa gần như bị loại khỏi nguồn tín dụng trung và dài hạn.
Điển hình cho rào cản hành chính tùy tiện là vụ việc tại Hải Phòng, khi một doanh nghiệp tư nhân nhập khẩu kính xây dựng bị xử phạt hành chính và ấn định áp giá tính thuế tăng thêm 400 triệu đồng chỉ vì độ dày sản phẩm đo được là 4,58mm so với khai báo 4,5mm, mặc dù mức chênh lệch 0,08mm hoàn toàn nằm trong tiêu chuẩn dung sai quốc tế. Doanh nghiệp này phải chịu thiệt hại kéo dài hơn 100 triệu đồng chi phí lưu kho bãi, minh chứng cho sự bất cập trong khâu thực thi công vụ của cơ quan quản lý.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp cùng các bộ ngành rà soát, bãi bỏ 100% các quyết định tạm ngừng đăng ký kinh doanh trái thẩm quyền và loại bỏ triệt để các loại giấy phép con không cần thiết. Đẩy mạnh cơ chế hành chính một cửa, bảo đảm thời gian xử lý thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa xuống dưới 7 ngày làm việc trước năm 2008.
Thứ hai, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước tiến hành đơn giản hóa biểu thuế giá trị gia tăng xuống còn một đến hai mức thuế suất đồng nhất, xóa bỏ hoàn toàn quy định thu thuế thu nhập bổ sung đối với doanh nghiệp có vị trí kinh doanh thuận lợi. Thành lập mạng lưới Quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của khối doanh nghiệp tư nhân lên trên 40% vào năm 2010.
Thứ ba, Tổng cục Hải quan triển khai toàn diện hệ thống thông quan điện tử phân luồng tự động xanh, vàng, đỏ tại tất cả các cửa khẩu quốc tế, chấm dứt triệt để tình trạng tiêu cực thu phí ngoài luồng khoảng 300.000 đồng trên mỗi container hàng hóa. Chuẩn hóa quy trình kiểm hoá và thời gian thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu xuống dưới 24 giờ đối với hàng hóa thuộc luồng xanh.
Thứ tư, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì ban hành chính sách miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ tiên tiến phục vụ đổi mới sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, xây dựng chương trình trợ cấp 50% kinh phí đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng quản trị kinh doanh cho các chủ doanh nghiệp trong lộ trình từ năm 2008 đến năm 2010.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để đánh giá tác động của quy phạm pháp luật, từ đó xây dựng các chương trình trợ cấp và hoàn thiện cơ chế thể chế kinh tế thị trường.
Nhóm thứ hai là các chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà sáng lập khởi nghiệp. Nghiên cứu mang lại cái nhìn sâu sắc về khuôn khổ pháp lý, quyền lợi được quy định trong Luật Doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị nhận diện rủi ro hợp đồng, phòng tránh cạnh tranh không lành mạnh và tối ưu hóa chuỗi cung ứng nguyên liệu.
Nhóm thứ ba gồm các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và các quỹ hỗ trợ phát triển. Tài liệu cung cấp bức tranh chi tiết về đặc thù dòng vốn, nhu cầu tín dụng và rủi ro thế chấp của khối kinh tế tư nhân, làm cơ sở xây dựng các gói tài trợ thương mại phù hợp.
Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế học phát triển và Luật Kinh tế. Đề tài đóng vai trò nguồn tài liệu học thuật giá trị về tiến trình chuyển đổi thể chế kinh tế tại Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử.
Câu hỏi thường gặp
Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu được quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa là các cơ sở kinh doanh độc lập, đã đăng ký hợp pháp, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động bình quân hàng năm không vượt quá 300 người.
Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã tạo ra bước đột phá thể chế nào cho khu vực kinh tế tư nhân?
Luật Doanh nghiệp đã luật hóa quyền tự do kinh doanh, chuyển đổi căn bản từ cơ chế xin phép sang cơ chế đăng ký kinh doanh minh bạch theo nguyên tắc người dân được làm những gì pháp luật không cấm, đồng thời áp dụng phương thức quản lý tiền đăng hậu kiểm giúp số lượng doanh nghiệp mới tăng gấp 7 đến 8 lần.
Đâu là rào cản lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tiếp cận nguồn vốn ngân hàng?
Rào cản chủ yếu nằm ở quy định thế chấp tài sản ngặt nghèo và sự phân biệt đối xử khi doanh nghiệp nhà nước được vay tín chấp hoặc khoanh nợ, trong khi phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ tài sản bảo đảm và thiếu hệ thống báo cáo tài chính được kiểm toán độc lập.
Chính sách thương mại mở cửa giai đoạn 1998 đã tác động như thế nào đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp?
Nghị định 57/1998/NĐ-CP đã bãi bỏ giấy phép xuất khẩu chuyến, cho phép tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hàng hóa sản xuất hợp pháp, nâng số doanh nghiệp tư nhân tham gia xuất khẩu từ 500 lên 4.500 đơn vị, đạt kim ngạch 250 triệu USD vào năm 1998.
Vì sao phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam sử dụng công nghệ lạc hậu so với thế giới từ 3 đến 4 thế hệ?
Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp thiếu vốn tự có, khó tiếp cận vốn vay trung dài hạn, chịu thuế nhập khẩu máy móc thiết bị cao và thiếu các tổ chức dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Kết luận
- Khẳng định vị trí chiến lược của doanh nghiệp nhỏ và vừa khi đóng góp từ 26% đến 28% GDP quốc gia và giải quyết việc làm cho gần 3 triệu lao động trong khu vực kinh tế tư nhân.
- Nhận diện rõ các điểm nghẽn kìm hãm sự phát triển bao gồm độc quyền nhà nước, hệ thống thuế phức tạp, rào cản tiếp cận tín dụng và thủ tục hải quan nhiều phiền hà.
- Đánh giá cao tác động đòn bẩy của Luật Doanh nghiệp năm 1999 và Nghị định 90/2001/NĐ-CP trong việc giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy tự do kinh doanh.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, tài chính thuế, hải quan và chuyển giao công nghệ với lộ trình thực thi dứt điểm trước năm 2010.
- Kêu gọi các cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước nhanh chóng xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử, kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.