Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1. Tổng quan về nhập khẩu 1. Khái niệm nhập khẩu Theo điều 28 của Luật Thương mại 2005 do Quốc hội ban hành ngày 14/06/2005, nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Như vậy, có thể hiểu nhập khẩu là việc nhập hàng hóa, nguyên vật liệu từ các quốc gia khác trên thế giới về Việt Nam để tiêu thụ hoặc đáp ứng nhu cầu sản xuất, nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc tái xuất khẩu nhằm thu lợi nhuận. Hoạt động nhập khẩu là hoạt động thương mại quốc tế trong đó hàng hóa được trao đổi giữa các quốc gia theo nguyên tắc ngang giá trong một thời gian nhất định. Có thể thấy nhập khẩu là một hoạt động vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Nó không chỉ đảm bảo sự phát triển ổn định của các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn mà còn phát huy được nhiều lợi thế của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao động và cải thiện hiệu quả cán cân thanh toán quốc tế.
Vai trò của nhập khẩu 1. Đối với nền kinh tế Đầu tiên, nhập khẩu đẩy nhanh quá trình phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đẩy mạnh nhập khẩu đòi hỏi sự đồng bộ về kỹ thuật cho nên sẽ tạo ra máy móc hiện đại kéo theo sự thay đổi trong đội ngũ cán bộ kỹ thuật và quản lý, tạo ra kỷ luật cao trong đội ngũ công nhân, nâng cao ý thức làm việc hiệu quả. Thứ hai, nhập khẩu thuận lợi đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước của người dân: Nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài giúp giải quyết vấn đề khan hiếm hàng hóa trong nước.
Trong trường hợp quốc gia đó không sản xuất được hoặc sản xuất nhưng không đủ cung cấp cho người dân thì nhập hàng từ nước ngoài là cách tốt nhất. Bởi nó không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước mà còn đảm bảo sự phát triển cân đối, bền vững của nền kinh tế. Thứ ba, nhập khẩu giúp thị trường hàng hóa phong phú và sôi động thêm: Việc nhập hàng từ bên ngoài vào thị trường trong nước sẽ đa dạng nguồn cung cấp cho người dân chọn lựa. Dựa trên nhu cầu thực, họ sẽ đối chiếu các sản phẩm để tìm được cho ra mặt hàng thích hợp nhất với mức sống của mình.
3 Thứ tư, nhập khẩu giúp xoá bỏ tình trạng độc quyền hàng hoá: Cùng một sản phẩm, nhưng việc có nhiều thương hiệu đến từ các quốc gia cùng có mặt trên thị trường sẽ xoá bỏ tình trạng manh mún, nhỏ lẻ như trước đây. Thay vào đó là một thị trường năng động, nhiều cơ hội để khai thác và phát huy ưu thế cạnh tranh của các quốc gia. Thứ năm, nhập khẩu góp phần nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu và tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa. Bởi lẽ, để có nguồn hàng đạt tiêu chuẩn cho xuất khẩu thì nguồn nguyên liệu đầu vào cũng cần đạt chất lượng và số lượng.
Để bù đắp nguồn nguyên liệu trong nước chưa cung cấp đủ thì chúng ta cần nhập khẩu. Đồng thời, nâng cao uy tín của đất nước trên thị trường quốc tế. Như vậy có thể nói cải thiện nhập khẩu sẽ là động lực cần thiết đối với việc xử lý những vấn đề trọng yếu của nền kinh tế từng quốc gia, thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và giúp mỗi nước tận dụng tối đa ưu thế của mình về thị trường lao động quốc tế. Điều này nói lên tính tích cực của việc cải thiện nhập khẩu đối với quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Đối với doanh nghiệp Đầu tiên, nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung ứng nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và giúp quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh của mình. Thứ hai, thông qua hoạt động nhập khẩu, các sản phẩm nhập khẩu có chất lượng tốt, mẫu mã đa dạng, có sức cạnh tranh mạnh vào thị trường trong nước buộc các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải không ngừng đổi mới, cải tiến công nghệ, quy trình, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, giảm giá thành để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong nước. Điều này cũng dẫn đến năng suất lao động tăng lên, người lao động tìm được việc làm, đời sống được cải thiện. Thứ ba, nhập khẩu giúp nâng cao năng lực chuyên môn của các thành viên trong doanh nghiệp nhập khẩu, bởi hoạt động này diễn ra trên phạm vi quốc tế, nhiều nền kinh tế khác nhau có sự giao lưu về chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán,.
Do đó, nhập khẩu doanh nghiệp buộc phải tiến hành quản lý doanh nghiệp. Không ngừng đổi mới, các cán bộ, cá nhân doanh nghiệp phải không ngừng học hỏi kinh nghiệm, nâng cao nghiệp vụ để làm tốt công việc của mình. Như vậy, hiệu quả nhập khẩu có vai trò quyết định đến việc tăng trưởng của một quốc gia vì nó quan trọng và là một nhu cầu cần thiết mà không một quốc gia nào có thể bỏ qua. Một quốc gia muốn tăng trưởng mạnh mẽ cần phải có một chiến lược nhập khẩu phù hợp và hiệu quả.
Các hình thức nhập khẩu 1. Hình thức nhập khẩu trực tiếp Khái niệm Hoạt động nhập khẩu trực tiếp hay còn gọi là nhập khẩu tự doanh là hình thức nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp thực hiện nhập khẩu trực tiếp các hàng hoá và dịch vụ mà không qua một tổ chức trung gian nào. Đặc điểm (i) Doanh nghiệp phải chịu mọi chi phí và rủi ro cũng như phải chịu mọi trách nhiệm pháp lý về hoạt động nhập khẩu của mình; (ii) Hình thức này có ưu điểm là lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu nhiều hơn so với các hình thức nhập khẩu khác. Doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò là người bán trực tiếp, do đó nếu nhập khẩu có quy cách, chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, giá cả phù hợp sẽ nâng cao uy tín doanh nghiệp, thu được lãi cao; (iii) Doanh nghiệp phải chịu mọi nghĩa vụ thuế liên quan đến lĩnh vực nhập khẩu như thuế nhập khẩu, thuế mặt hàng …; (iv) Trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành phố; (v) Tổng cục hải quan xây dựng hệ thống mã số nói trên và hướng dẫn việc đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu; (vi) Đối với doanh nghiệp thành lập theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu được thực hiện theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan.
Quy định của chính phủ Việt Nam đối với hình thức nhập khẩu trực tiếp Pháp luật Việt Nam quy định về quyền kinh doanh nhập khẩu như sau: (i) Thương nhân là doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật được phép nhập khẩu hàng hoá theo ngành nghề đã đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; (ii) Các chi nhánh thuộc Tổng công ty, công ty được nhập khẩu theo uỷ quyền của Tổng giám đốc Tổng công ty, giám đốc công ty phù hợp với nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Tổng công ty, công ty; (iii) Trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu tại cục hải quan tỉnh, thành phố. Tổng cục hải quan xây dựng hệ thống mã số nói trên và hướng dẫn việc đăng ký mã số doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu; 5 (iv) Đối với doanh nghiệp thành lập theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu được thực hiện theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản pháp luật có liên quan. Hình thức nhập khẩu ủy thác Khái niệm Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập khẩu một loại hàng hoá nhưng lại không có quyền tham gia nhập khẩu trực tiếp, đã uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên uỷ thác sẽ tiến hành đàm phán với nước ngoài để nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
Hay nói cách khác nhập khẩu uỷ thác là doanh nghiệp nhập khẩu đóng vai trò trung gian nhập khẩu, làm thay cho đơn vị cần nhập khẩu nhữmg thủ tục cần thiết để nhập hàng và hưởng phầm trăm chi phí ủy thác theo giá trị hàng nhập khẩu. Đặc điểm (i) Trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhận uỷ thác không phải bỏ vốn, xin hạn nghạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường hàng nhập mà chỉ đóng vai trò làm đại diện bên uỷ thác giao dịch với nước ngoài, kí kết hợp đồng và làm các thủ tục nhập khẩu hàng cũng như thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thường với bên nước ngoài khi có tổn thất; (ii) Bên uỷ thác phải tự nghiên cứu thị trường, lựa chọn mặt hàng, đối tượng giao dịch và chịu mọi chi phí có liên quan; (iii) Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác thì doanh nghiệp chỉ được tính phí uỷ thác chứ không được tính doanh thu và không phải chịu thuế doanh thu; (iv) Khi nhập khẩu uỷ thác thì doanh nghiệp nhận uỷ thác phải lập hai hợp đồng: Một hợp đồng ngoại giữa doanh nghiệp nhập khẩu với đối tác nước ngoài và một hợp đồng nội giữa doanh nghiệp nhận uỷ thác với doanh nghiệp uỷ thác; (v) Hình thức nhập khẩu uỷ thác có ưu điểm là mức độ rủi ro thấp, trách nhiệm ít, người đứng ra nhập khẩu không phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt là không cần vốn để mua hàng, phí uỷ thác tuy ít nhưng nhận tiền nhanh và ít thủ tục và rủi ro.