CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG CUA HE THONG THOAT NUOC 1.Một số khái niệm 1.Khảái niệm đô thị Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, phần lớn là lao động phi nông nghiệp, có cơ sở hạ tầng phù hợp, là trung tâm tổng hợp hóa hay trung tâm chuyên môn hóa, có nhiệm vụ đây mạnh công cuộc tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước, của một vùng lãnh thổ, một tỉnh, huyện hoặc một vùng thuộc tỉnh, huyện. Những đô thị là trung tâm tổng hợp khi chúng có nhiệm vụ và hoạt động nhiều lĩnh vực về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội v. Những đô thị là trung tâm chuyên ngành khi chúng có hoạt động phan lớn về một lĩnh vực nào đó như du lịch nghỉ ngơi, công nghiệp cảng biển, đầu mối giao thông V. Trong đô thị, còn có cơ sở hạ tầng đô thị là thành phần thể hiện trình độ phát triển và tiện nghỉ trong sinh hoạt của cư dân thành phố theo lối sống đô thị.
Cơ sở hạ tang đô thị bao gồm ha tang kỹ thuật như giao thông, điện chiếu sáng, nước, cống rãnh, lao động thông tin, vệ sinh môi trường v. và hạ tầng xã hội như công trình dịch vụ công cộng phục vụ văn hóa, xã hội, giáo duc dao tạo, nghiên cứu khoa học, cây xanh, giai tri v. Đô thị được chia thành 5 loại theo sự phân cấp quản lý: - Đô thị loại I: Là đô thị rất lớn, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa-xã hội, khoa học kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải, giao dịch quốc tế, có nhiệm vụ thúc đây sự tăng trưởng kinh tế xã hội quốc gia. Dân số đô thị trên 1 triệu người, trong đó tỉ lệ lao động phi nông nghiệp chiếm hơn 90% tổng số lao động thành phố.
Mật độ dân cư bình quân trên 15000 người/km2. Loại đô thị này có ti suất hàng hóa cao, cơ sở hạ tầng kĩ thuật và mạng lưới công trình công cộng xây dựng thống nhất đồng bộ. - Đô thị loại II: Là đô thị lớn, là nơi trung tâm kinh tế văn hóa — xã hội, sản xuất công nghiệp, dịch vụ, giao thông, giao dịch quốc tế, nhiệm vụ đây mạnh tăng trưởng một đô thị. Dân số từ 350 nghìn đến dưới I triệu, tỷ lệ phi nông nghiệp hon 90%, mật độ dân số trung bình trên 12000 người/km2, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công trình công cộng được quy hoạch xây dựng nhiều mặt, tiến tới đồng bộ, hàng hóa sản xuất phát triển tốt.
- Đô thị loại II: Là đô thị lớn trung bình, là đầu mối tập trung kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, sản xuất công nghiệp-thủ công nghiệp tập trung, dịch vụ du lịch, với nhiệm vụ đây mạnh tăng trưởng của một đô thị hoặc từng lĩnh vực đô thị. Dân số từ 100000 nghìn đến 350000 người, tỉ lệ phi nông nghiệp hơn 80%, mật độ dân cư trung bình hơn 10000 người/km2 ( có thể thấp hơn đối với đô thị miền núi). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật là hệ thống công trình công cộng được xây dựng từng mặt. - Đô thị loại IV: Là đô thị trung bình nhỏ, dân số từ 30000 đến 100000 người (đô thị núi có thé thấp hơn), tỷ lệ lao động phi nông nghiệp hơn 70%.
Mật độ dân cư trên 8000 người/km2. Co sở hạ tang kỹ thuật và công trình công cộng đã và đang được đầu tư phát triển từng phan. - Đô thị loại V: Là đô thị nhỏ, trung tâm kinh tế-xã hội, trung tâm chuyên ngành sản xuất tiêu thủ công nghiệp v. có nhiệm vụ thúc đây sự tăng trưởng của huyện hay một đô thị thuộc huyện.
Dân số thấp chỉ từ 4000 đến 30000 người. Tỉ lệ lao động phi nông nghiệp hơn 60%. Mật độ dân số 6000 người/km2, hệ thống công trình công cộng và hạ tầng kĩ thuật vẫn đang bắt đầu xây dựng. Thoát nước trong đô thị Thoát nước là một hoạt động thiết yếu nhằm đào thải một cách tự nhiên hoặc nhân tạo nước mặt và nước ngầm dưới bề mặt khỏi khu vực có nhiều nước.
Thoát nước là hoạt động rất quan trọng ảnh hưởng trong nhiều lĩnh vực trong đô thị, từ cơ sở hạ tầng thoát nước, giao thông, thoát nước trong các khu công nghiệp sản xuất, nước thải sinh hoạt của dân cư, thoát nước mưa trong mùa mưa lớn đến ảnh hưởng tới môi trường cảnh quan đô thị v. Nước cấp nhân tạo hoặc tự nhiên sau khi qua giai đoạn sử dụng của người dân như mục đích sinh hoạt, của khu công nghiệp qua quá trình sản xuất, qua hệ thong hạ tang đô thị như mặt đường, nước mưa chảy trên các mái nhà, ao hỗ, sân vườn. trở thành nước thai chung. Nguồn nước này có thé gồm nhiều hợp chất vô cơ, hữu cơ độc hại dễ bị phân hủy thối rứa và chứa nhiều vi khuẩn vi trùng nguy hiểm có 4 khả năng lây nhiễm bệnh.
Cho nên không thé dé cho nguồn nước thai này được xả một cách bừa bãi, vô ý thức, sẽ vô tình gây ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí đô thị, làm tiền đề nảy sinh vô số bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng tới sức khỏe con người và động vật. Mặt khác, việc mưa lớn bat thường, va các tác động tiêu cực khác từ đô thị hóa, đê điều, sông ngòi xung quanh thành phố có thé ảnh hưởng xấu, nếu không có hệ thống thu gom, vận chuyên đi thì sẽ gây nên tình trạng ngập lụt trong các điểm dân cư, xí nghiệp công nghiệp, hạn chế đất đai xây dựng, ảnh hưởng xâu đến nền móng công trình, làm tắc nghẽn vô hiệu hệ thống giao thông thành phố và ảnh hưởng xấu tới nhiều ngành kinh tế khác trong thành phô. Thoát nước và xử lý nước thải đóng vai trò quan trọng và liên kết chặt chẽ với nhiều yếu tố khác trong đô thị, là nội dung quan trọng trong quy hoạch xây dựng và quản lý đô thị. Tại các vùng gặp phải vấn đề hệ thống hạ tầng thoát nước thấp kém dễ dẫn đến môi trường bị ô nhiễm, bệnh tật lây lan, ngập úng lớn, lụt lội sạt lở, là một số biéu hiện dé thấy được tầm quan trọng của lĩnh vực này.
Thoát nước còn là một trong những tiêu chí quan trọng dé đánh giá về chất lượng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đối với các khu đô thị, điểm dân cư mới, qua đó thấy được mức độ hiện đại và hấp dẫn của riêng khu đô thị đó, tính tiềm năng và có khả năng phát triển bền vững lâu dài của khu đô thị đó trong mắt khách hàng.Hệ thống thoát nước Hệ thống thoát nước được định nghĩa là tổ hợp của những công trình, thiết bị, giải pháp kĩ thuật được tổ chức dé thực hiện nhiệm vụ thoát nước của đô thị. Nhiệm vụ chính của hệ thống thoát nước trong đô thị là thu gom, vận chuyên nhanh chóng và hiệu quả mọi loại nước thải ra khỏi vùng dân cư sinh sống, các khu công nghiệp, đồng thời xử lý nguồn nước thải và khử trùng đến mức độ đạt yêu cầu vệ sinh trước khi xả nguồn nước đó vào những nguồn tiếp nhận tiếp theo như ao, hồ, sông, bién. Hệ thống cap thoát nước đã có lich sử hình thành va phát triển lâu đời từ hon 4000 năm trước công nguyên. Nơi khởi điểm là những vùng thung lũng sông nơi có đông dân cư tập trung như sông Nile, Chigara, An Độ, La Mã và Trung Quốc.
Ban đầu con người mới chỉ biết đào giếng khơi mương, lấy nước cũng thủ công, sau này thì lay nước là băng nhân tạo, nhưng đây là những tiến bộ bước dau trong xã hội 5 loài người nhằm phát triển nông nghiệp, hạ tầng từ thuở sơ khai, dù rằng mọi thứ vẫn còn rất thô sơ không có phương án hiệu quả, nước thải vẫn xả bừa bãi, không có tổ chức thu gom và không được xử lý. Việc xử lý nguồn nước thải trước khi đồ ra môi trường mới chỉ được nghiên cứu và phát triển từ khoảng thế kỷ 19 trở lại đây bắt đầu từ Anh, Đức và Pháp. Còn trước đó hệ thống thoát nước tập trung tuy được xây dựng phổ biến rộng rãi ở châu Âu, phục vu cho công nghiệp trong thời đại Công Nghiệp nhưng do trình độ khoa học kỹ thuật còn kém nên hệ thống xây ra chỉ để phục vụ cho những lâu dai, vua chúa, gia tộc thượng lưu, giáo hội và thường rất kém hiệu quả, chi phí đắt đỏ, tốn nhiều tiền bạc, nhân công, vật lực. Nước thải lại bị xả thăng ra sông suối, không qua xử lý nên ảnh hưởng lớn tới sức khỏe con người.Đặc điểm của hệ thống thoát nước Hệ thống thoát nước bao gồm mạng lưới thoát nước (đường ống, cống, kênh, mương, hồ điều hòa.), các trạm bơm thoát nước mưa, nước thải, các công trình phụ trợ nhăm xử lý nước thải và các công trình khác với mục đích thu gom, vận tải, tiêu thoát nước mưa, nước thải, phòng ngập úng và xử lý nước thải.
Hệ thống thoát nước mưa bao gồm mạng lưới cống, kênh thu gom, vận chuyên, hồ điều hòa, trạm bơm nước mưa, cửa vào, giếng thu, cửa xả và các công trình khác phục vụ thu gom và thoát nước mưa. Hệ thống thoát nước thải bao gồm mạng lưới cống, giếng đảo, thu và chuyển nước thải, trạm bơm nước thải, nhà máy xử lý nước thải,. và các công trình phụ trợ khác phục vụ thu, thoát và xử lý nước thải.Phân loại hệ thống thoát nước Có ba loại hệ thống thoát nước chính được phân biệt bởi phương thức vận chuyên thu gom nước và mục đích xử lý sử dụng nước: - Hệ thống thoát nước chung: Là một hệ thống mà trong đó tất cả các loại nước thải (nước mưa, nước thải sinh hoạt và sản xuất) được dẫn vào cùng một mạng lưới thoát nước đưa đến nhà máy xử lý hoặc thải thăng ra nguồn tiếp nhận. Trong nhiều trường hợp, các giếng tràn tách nước mưa đã được xây dựng ở cuối đoạn nhánh và đầu cống chính dé xả phần lớn lượng nước mưa trong đợt mưa lớn kéo dai, đô vào các nguôn nước gân đó, đê giảm kích thước công và giảm lưu lượng nước mưa đến trạm bơm nước, hoặc chuyên đến cơ sở xử lý và thu gom toàn bộ nước thải khi trời không mưa và toàn bộ nước mưa khi mới bắt đầu mưa để xử lý.