Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Một số vấn đề về phát triển bền vững 1. Khái niệm về phát triển bền vững Phát triển bền vững là khái niệm đã được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu.
Bắt đầu tư năm 1992, phát triển bền vững được xác định là “một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của thế hệ tương lai” tại Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc được tổ chức ở Rio de Janeiro. Nền tảng của phát triển bền vững là quá trình vận hành đồng thời trên ba khía cạnh của phát triển: Đó là tăng trưởng kinh tế bền vững, xã hội thịnh vượng, công bằng, ổn định và môi trường được trong lành cũng như tài nguyên được duy trì bền vững. Do vậy, nguyên tắc cho phát triển bền vững bao gồm các nguyên tắc phát triển bền vững trong cả ba lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định chính sách đã quan tâm đến chủ đề PTBV.
Quan niệm về PTBV thường được tiếp cận theo hai khía cạnh: Thứ nhất là, PTBV là phát triển trong mối quan hệ duy trì những giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái là một trong những yếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự phát triển. Thứ hai là, PTBV là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và cho mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau. Khái niệm phát triển bền vững tại Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường, Phát triển bền vững (PTBV) là: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng Luan van 7 trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Đây là định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu nhất của PTBV, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam,.
Nội dung của phát triển bền vững Từ nội hàm khái niệm PTBV, nội dung của phát triển bền vững được khái quát lại dựa trên ba khía cạnh: Thứ nhất, bền vững mặt kinh tế. Mỗi nền kinh tế được coi là bền vững cần đạt được những yêu cầu sau: - Tăng trưởng GDP và GDP/người đạt mức cao. Đối với nước phát triển có thu nhập cao vẫn phải giữ nhịp độ tăng trưởng cao, còn đối với các nước càng nghèo, có thu nhập thấp càng phải phấn đấu đạt tỷ lệ tăng trưởng mức độ cao. - Cơ cấu GDP được thể hiện khi tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn nông nghiệp thì tăng trưởng mới có thể đạt được bền vững.
Thứ hai, bền vững về mặt xã hội. Các tiêu chí như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa sẽ đo lường tính bền vững về phát triển xã hội ở mỗi quốc gia. Ngoài ra, bền vững về mặt xã hội còn thể hiện dựa trên sự bảo đảm đời sống xã hội hài hòa; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội, bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không cao quá và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn. Thứ ba, bền vững về mặt môi trường.
Quá trình CNH, HĐH, phát triển nông nghiệp, du lịch; quá trình đô thị hóa, xây dựng NTM,. đều tác động đến môi trường và gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường, điều kiện tự nhiên. Bền vững về môi trường được xem xét khi sử dụng các yếu tố tự nhiên hợp lý, hài hòa, chất lượng môi trường sống của con người phải được bảo đảm. Đó là bảo đảm sự trong sạch về không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan.
Chất lượng của các yếu tố trên luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế. Phát triển sản xuất cây quýt theo hướng bền vững 1. Khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững Phát triển nông nghiệp bền vững là quá trình sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, phải bảo đảm được mục đích là kiến tạo một hệ thống bền vững kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn nhu cầu về phát triển nông nghiệp hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của phát triển trong tương lai và được xã hội chấp nhận. Bền vững về kinh tế, là sản xuất nông nghiệp hướng đến chuỗi giá trị, hiệu quả đạt cao, làm ra nhiều sản phẩm có chất lượng, không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế.
Bền vững về xã hội, là một nền nông nghiệp PTBV phải đảm bảo cho người nông dân có đầy đủ công ăn việc làm, có thu nhập ổn định, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng lên. Bền vững về môi trường, là mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp không hủy hoại nguồn tài nguyên thiên nhiên và không gây ô nhiễm môi trường. Nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững Nội dung phát triển nông nghiệp bền vững được thể hiện trên ba khía cạnh sau: nông nghiệp phát triển bền vững (NNPTBV) trên phương diện kinh tế; NNPTBV trên phương diện xã hội và nông nghiệp phát triển theo hướng bền vững trên phương diện bảo vệ môi trường. Trên phương diện kinh tế, NNPTBV là nền nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định với cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hợp lý, hiện đại trên cơ sở phát huy lợi thế về những điều kiện tự nhiên (chất đất, khí hậu…), tập quán, kinh nghiệm sản xuất, thị trường của nông nghiệp Việt Nam phù hợp với xu hướng nông nghiệp và thị trường thế giới.
Nông nghiệp PTBV trên phương diện xã hội là quá trình phát triển vừa đảm bảo được mục tiêu kinh tế vừa đảm bảo được mục tiêu thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo cho mọi người đều có cơ hội học hành và có Luan van 9 việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tạo sự đồng thuận và an sinh xã hội. NNPTBV hướng đến một xã hội trong đó phát triển kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế; phúc lợi xã hội phải được chăm lo, các giá trị về văn hóa, đạo đức của dân tộc và cộng đồng phải được bảo vệ và phát huy. Nông nghiệp PTBV trên phương diện môi trường là quá trình phát triển đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, gắn với khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên không làm suy thoái, hủy hoại môi trường mà còn nuôi dưỡng, cải thiện chất lượng môi trường. Về chất lượng môi trường, trong NNPTBV đó là một tổng thể như môi trường khí hậu, thổ nhưỡng, nước, đất, giống, cảnh quan,… nhìn chung không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm; các nguồn phế thải phải được xử lý, tái chế kịp thời (Nông Quốc Hải, 2019) & (Hoàng Hùng, 2007).
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất cây quýt theo hướng bền vững ■ Các yếu tố về kỹ thuật Các vấn đề về kỹ thuật cho cây được đề cập một cách khá toàn diện, trong đó vai trò của các nguyên tố giống, dinh dưỡn như phân bón, kỹ thuật tạo cành và bón phân có ảnh hưởng tới từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây cũng như năng suất, chất lượng quả được nghiên cứu khá chi tiết. Giống cây Giống cây trồng hay còn gọi là di truyền là một trong những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng tới năng suất cây trồng. Các nghiên cứu từ chuyên gia và kinh nghiệm lâu năm từ bà con nông dân thì di truyền ảnh hưởng tới hơn 40% sản lượng của quả, hạt nông sản, củ,… Giống cây trồng không chất lượng sẽ làm ảnh hưởng đến tỷ lệ ra hoa, thụ phấn, chất lượng quả, khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu hạn. Ngày này, khi sử dụng công nghệ di truyền làm thay đổi lớn cho ngành nông nghiệp, tăng cao năng suất, giống mới độc lạ phù hợp hơn với khí hậu, thổ nhưỡng nước ta.
Luan van 10 Phân bón Phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cây trồng. Mỗi chất đều đảm nhiệm một chức năng nào đó trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây. Có chất tham gia trực tiếp thành phần cấu tạo của tế bào mô cây và có chất lại trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của cây hoặc tác động đến các enzyme, các chất điều hoà sinh trưởng. Việc bón phân hợp lý sẽ thúc đẩy các quá trình phát triển của cây, giúp cây đẻ nhánh, cành lá phát triển, tỷ lệ ra hoa, kết trái tăng cao, giúp tăng khả năng chống lại sâu bệnh, sự thay đổi của thời tiết, khí hậu.
Đối với dinh dưỡng cho cây trồng Cây trồng nếu thiếu đạm sẽ làm cho lá cây có múi bị mất diệp lục và bị vàng đều, nếu thiếu nghiêm trọng thì cành bị ngắn lại, mảnh, lá vàng, dễ bị rụng, quả ít. Thiếu đạm chỉ ảnh hưởng đến độ lớn của quả mà không ảnh hưởng đến phẩm chất quả, dạng đạm phổ biến dùng là amon sunfat. Đối với đất kiềm hoặc chua tốt nhất nên dùng các loại phân có gốc nitrat còn thúc đẩy sự hút magie ở đất thiếu magie. Ngoài ra, nếu thừa lân gây tình trạng thiếu kẽm (hiện tượng gân xanh lá vàng), một bệnh sinh lý khá phổ biến ở cam quýt.
Trường hợp thiếu kali trong thời gian ngắn sẽ làm quả nhỏ nhưng không có triệu chứng ở lá, thiếu trong thời gian dài lá mới bị dày và nhăn nheo, vùng giữa các gân lá bị mất diệp lục, sau đó có các vết chết khô, khi thiếu trầm trọng đầu cành bị rụng, lá bị chết khô, cây thường bị chảy gôm, quả thô, phẩm chất kém. Việc bổ sung dinh dưỡng cho cây có múi có thể căn cứ trên các mảng yếu tố khác nhau trong đó: chẩn đoán dinh dưỡng bằng phân tích đất, phân tích lá và dựa vào các thí nghiệm bón phân được sử dụng phổ biến hơn cả. Ngoài các phương pháp kể trên người ta còn dựa vào triệu chứng, vào năng suất vụ trước,… để bổ sung dinh dưỡng cho cây có múi.