Tổng quan nghiên cứu

Đầm Đông Hồ thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, là một vùng đất ngập nước ven biển đặc thù với tổng diện tích tự nhiên đạt 1.384,66 ha, trong đó diện tích mặt nước chiếm 963,36 ha và diện tích dừa nước chiếm 327,1 ha. Nằm trong vùng đệm của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang có quy mô hơn 1,1 triệu ha được UNESCO công nhận năm 2006, đầm Đông Hồ giữ vai trò xung yếu trong việc cân bằng sinh thái, điều hòa khí hậu và thoát lũ cho gần 100.000 ha đất canh tác nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên.

Tuy nhiên, trước áp lực của quá trình phát triển kinh tế xã hội, đầm đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do tốc độ bồi lắng phù sa gia tăng nhanh chóng, lớp sình đáy tích tụ dày từ 1,3 m đến 1,5 m làm thu hẹp 30% diện tích mặt nước khi triều kiệt. Cùng với đó là sức ép từ 139 hộ khai thác thủy sản mang tính hủy diệt, nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý với khối lượng rác thải khoảng 22,5 tấn/tháng và các dự án kè lấn biển làm biến đổi dòng chảy tự nhiên.

Mục tiêu chính của đề tài là phân tích toàn diện đặc điểm tự nhiên, môi trường và sinh kế dân sinh tại đầm Đông Hồ; đánh giá các nguồn sức ép sinh thái theo mô hình chuẩn hóa; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học gắn liền với phát triển bền vững trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tạo cơ sở khoa học để phục hồi hơn 700 ha rừng ngập mặn và chuyển đổi sinh kế bền vững cho hơn 2.200 nhân khẩu tại khu vực lòng hồ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết nền tảng trong khoa học môi trường hiện đại. Thứ nhất là Lý thuyết Phát triển bền vững, bắt nguồn từ Báo cáo Brundtland năm 1987 và Chương trình Nghị sự 21 năm 1992, nhấn mạnh sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Thứ hai là Cách tiếp cận Hệ sinh thái theo định hướng của Công ước Ramsar năm 1971, coi đầm Đông Hồ là một phức hệ sinh thái mở với sự tương tác qua lại mật thiết giữa các hợp phần thủy vực, thảm thực vật ngập mặn và cộng đồng cư dân bản địa. Thứ ba là Cách tiếp cận Hệ thống, cho phép xem xét mối liên kết động lực đa chiều giữa dòng chảy nội địa từ sông Mê Kông, sông Giang Thành và chế độ nhật triều của biển Tây.

Mô hình nghiên cứu trung tâm được áp dụng là khung phân tích DPSIR do Cơ quan Môi trường Châu Âu ban hành năm 1999. Khung này phân tích chuỗi quan hệ nhân quả khép kín gồm: Động lực phát triển kinh tế xã hội (Drivers), Áp lực môi trường và khai thác (Pressures), Hiện trạng chất lượng tài nguyên nước và rừng (State), Tác động đến đa dạng sinh học và đời sống dân sinh (Impact), và các Đáp ứng chính sách quản lý (Response). Bốn khái niệm then chốt xuyên suốt đề tài bao gồm: đất ngập nước ven biển, đầm phá cửa sông, sức tải sinh thái và mô hình đồng quản lý tài nguyên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa chuỗi số liệu viễn thám, bản đồ không ảnh giai đoạn 1974 - 2014, các số liệu thống kê thủy văn, khí tượng và kết quả đo đạc chất lượng môi trường nước với các chỉ số như BOD5, Nitrit và dầu mỡ khoáng.

Về cỡ mẫu và phương pháp thu thập thực địa, tác giả đã tiến hành khảo sát toàn diện vào tháng 10 năm 2016 tại 15 tổ nhân dân tự quản thuộc ấp Cừ Đứt, phường Đông Hồ. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng để phỏng vấn sâu 139 hộ dân trực tiếp khai thác thủy sản trong lòng đầm, bao gồm 78 hộ làm nghề dớn, 27 hộ đóng đáy, 20 hộ đẩy xiệp điện và 14 hộ đặt lú Thái. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác cấu trúc sinh kế đặc trưng và đo lường mức độ tác động của từng nhóm ngư cụ lên nguồn lợi thủy sản theo từng tiểu vùng sinh thái.

Phương pháp phân tích hệ thống kết hợp với mô hình DPSIR được lựa chọn làm phương pháp phân tích chủ đạo vì tính ưu việt trong việc tích hợp dữ liệu liên ngành, giúp lượng hóa mối tương tác giữa các hoạt động nhân sinh và sự biến đổi của hệ sinh thái đầm phá theo cả không gian và thời gian.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Hệ sinh thái đầm Đông Hồ sở hữu mức độ đa dạng sinh học vượt trội với cấu trúc chuyển tiếp rõ nét giữa ba hệ sinh thái nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Nghiên cứu đã ghi nhận 48 loài thực vật bậc cao, trong đó có 32 loài cây ngập mặn thực thụ với diện tích rừng dừa nước chiếm 327,1 ha (riêng khu vực Rạch Két chiếm tỷ trọng lớn nhất với 181,2 ha, tương đương 55,4%). Khu hệ thủy sản ghi nhận 96 loài cá thuộc 50 họ, trong đó 3 loài cá chiếm ưu thế về số lượng là cá trác vây đuôi dài (17,5%), cá đổng tía (12,0%) và cá tráo mắt to (9,2%). Hệ phiêu sinh vật bao gồm 142 loài thực vật phù du và 66 loài động vật phù du giàu dinh dưỡng.

Tốc độ bồi lắng lòng đầm đang diễn ra với cường độ rất mạnh. Khi mực nước triều rút xuống mức âm 0,22 m, các cồn phù sa phía Tây Bắc và Tây Nam nổi lên chiếm tới 30% diện tích mặt nước, thu hẹp không gian chứa nước của lòng đầm xuống còn 70%. Độ dày lớp sình tích tụ đáy đạt từ 1,3 m đến 1,5 m, làm dịch chuyển cửa sông Giang Thành dần về phía Nam.

Cường lực khai thác mang tính hủy diệt đe dọa nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản. Toàn đầm có 78 hộ sử dụng từ 30 đến 80 cái dớn/hộ và 20 hộ sử dụng xiệp kích điện đáy. Dù nghề đóng đáy mang lại sản lượng trung bình cao nhất đạt 61,6 kg/ngày/hộ (mùa chính đạt 110,7 kg/ngày/hộ), tỷ lệ cá tạp và cá con chưa trưởng thành chiếm hơn 60% sản lượng đánh bắt, làm suy giảm nghiêm trọng trữ lượng sinh khối tự nhiên.

Áp lực ô nhiễm chất thải sinh hoạt và công nghiệp cục bộ gia tăng nhanh. Với quy mô 630 hộ dân gồm 2.259 nhân khẩu tại ấp Cừ Đứt, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ước tính đạt 750 kg/ngày (tương đương 22,5 tấn/tháng), hầu hết bị xả thẳng xuống lòng đầm. Ngoài ra, nước rỉ từ bãi rác phía Tây thị xã và nước thải từ các vùng nuôi tôm công nghiệp phía Đông dọc kênh Hà Giang đang gây ô nhiễm hữu cơ đáng kể.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng bồi lắng và ngọt hóa nhanh chóng của đầm Đông Hồ xuất phát từ sự mất cân bằng động lực giữa quá trình sông và quá trình biển. Việc mở rộng kênh Vĩnh Tế và xây dựng tuyến đường N1 vượt lũ đã dẫn một lượng lớn nước lũ mang hàm lượng phù sa cao từ sông Hậu đổ vào sông Giang Thành với lưu tốc đạt 0,8 m/s. Khi dòng chảy gặp vùng đầm rộng, vận tốc giảm đột ngột khiến toàn bộ phù sa bị bẫy lại trong lòng hồ. Đồng thời, các công trình kè lấn biển tại cửa Tô Châu (kè thương mại 4 ha năm 2003 và kè lấn biển 100 ha năm 2005) đã làm suy yếu dòng chảy triều từ vịnh Thuận Yên, khiến cán cân nghiêng hẳn về phía quá trình sông.

So sánh với 13 hệ thống đầm phá ven biển khác tại Việt Nam như Tam Giang - Cầu Hai (216 km2) hay đầm Thị Nại (50 km2), đầm Đông Hồ (13,84 km2) là trường hợp duy nhất có cộng đồng dân cư sinh sống tập trung trên cồn nổi ngay giữa lòng đầm và chịu sự chi phối hoàn toàn của chế độ nhật triều biển Tây.

Các dữ liệu nghiên cứu về diễn biến diện tích rừng ngập mặn giai đoạn 1974 - 2014 cùng các chỉ số nồng độ BOD5 và Nitrit có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua các biểu đồ đường và bản đồ chồng lớp GIS. Sự trực quan hóa này chứng minh rằng diện tích rừng ngập mặn tổng thể dù tăng lên 765 ha vào năm 2014 nhờ trồng mới, nhưng chất lượng thảm rừng nguyên sinh ven đầm đã suy giảm trên 40% do chuyển đổi sang nuôi tôm bán thâm canh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo tồn sinh thái, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, thiết lập Mô hình sinh kế đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại bãi triều Thị Vạn và Tổ 9 ấp Cừ Đứt. Ban Quản lý Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang phối hợp với UBND thị xã Hà Tiên chuyển đổi 100% các hộ làm nghề xiệp điện và lú Thái sang nghề lưới bén chọn lọc hoặc nuôi cá lồng bè sinh thái trong giai đoạn 2017 - 2020, giảm 50% cường lực khai thác hủy diệt.

Thứ hai, triển khai Mô hình Làng sinh thái du lịch cộng đồng Cừ Đứt gắn với di sản văn hóa Tao đàn Chiêu Anh Các. Sở Du lịch tỉnh Kiên Giang chủ trì xây dựng các tour du lịch trải nghiệm chèo thuyền xuyên rừng dừa nước diện tích 370,2 ha, quảng bá sản phẩm đường nhựa dừa nước truyền thống, đặt mục tiêu nâng thu nhập bình quân của cư dân địa phương lên trên 4,5 triệu đồng/người/tháng vào năm 2022.

Thứ ba, đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm môi trường. Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Hà Tiên triển khai dự án thu gom triệt để 22,5 tấn rác thải/tháng tại ấp Cừ Đứt, xây dựng hệ thống đê bao xử lý nước rỉ rác tại bãi rác phía Tây và trạm xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trước năm 2021.

Thứ tư, quy hoạch phân vùng sinh thái và phục hồi rừng ngập mặn. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Kiên Giang tiến hành khoanh nuôi tái sinh 150 ha rừng phòng hộ ven đầm, nghiêm cấm các dự án san lấp lấn biển vượt quá 2 ha tại khu vực cửa đầm Tô Châu trong tầm nhìn đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và đô thị: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND thị xã Hà Tiên có thể sử dụng hệ thống số liệu thủy văn và kết quả phân tích DPSIR để xây dựng quy hoạch sử dụng đất, thẩm định đánh giá tác động môi trường các dự án lấn biển và quản lý chương trình thoát lũ Tứ giác Long Xuyên.
  2. Các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành sinh thái học: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng chi tiết về danh mục 96 loài cá, 48 loài thực vật ngập mặn và chuỗi biến động diện tích đất ngập nước ven biển Tây Nam trong 40 năm phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.
  3. Tổ chức phi chính phủ và các ban quản lý dự án bảo tồn: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị để thiết kế các dự án viện trợ phát triển sinh kế cộng đồng, nhân rộng mô hình đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên tại các vùng đệm khu dự trữ sinh quyển thế giới.
  4. Doanh nghiệp lữ hành và phát triển du lịch sinh thái: Khai thác tiềm năng cảnh quan đặc trưng của đầm Đông Hồ để phát triển các sản phẩm du lịch xanh, du lịch trải nghiệm nông nghiệp sinh thái dựa vào cộng đồng dân cư bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Đầm Đông Hồ giữ vai trò sinh thái và thủy văn như thế nào đối với vùng Tứ giác Long Xuyên? Đầm Đông Hồ có diện tích 1.384,66 ha, đóng vai trò là bể lắng trầm tích tự nhiên và cửa ngõ thoát lũ quan trọng ra biển Tây cho gần 100.000 ha đất canh tác nông nghiệp. Vùng nước lợ của đầm là nơi cư trú và sinh sản thiết yếu của 96 loài cá và 48 loài thực vật ngập mặn đặc trưng.

Nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng bồi lắng và thu hẹp lòng đầm Đông Hồ là gì? Nguyên nhân chủ yếu do sông Giang Thành tiếp nhận nguồn nước lũ mang nhiều phù sa từ kênh Vĩnh Tế với lưu tốc 0,8 m/s bị giảm tốc đột ngột khi vào đầm, tích tụ lớp sình dày 1,3 m đến 1,5 m. Đồng thời, các công trình kè lấn biển 4 ha và 100 ha tại cửa Tô Châu làm suy giảm động lực triều biển Tây.

Các nghề khai thác thủy sản hiện nay tác động tiêu cực ra sao đến tài nguyên đầm? Hiện có 139 hộ khai thác bằng các ngư cụ hủy diệt như nghề dớn (78 hộ), xiệp điện (20 hộ) và lú Thái (14 hộ). Các loại ngư cụ có kích thước mắt lưới rất nhỏ này đánh bắt tận diệt cả con non và các loài cá bố mẹ, đồng thời việc kéo xiệp đáy làm bật gốc cây con, cản trở sự phục hồi của 327,1 ha rừng dừa nước.

Mô hình đồng quản lý nguồn lợi thủy sản tại ấp Cừ Đứt được vận hành như thế nào? Mô hình trao quyền trực tiếp cho cộng đồng ngư dân tại Tổ 9 ấp Cừ Đứt và bãi triều Thị Vạn tự xây dựng quy ước khai thác. Ngư dân cam kết xóa bỏ hoàn toàn xiệp điện, tuân thủ kích thước mắt lưới tối thiểu và tham gia bảo vệ các bãi đẻ tự nhiên để đảm bảo sinh kế ổn định lâu dài.

Các giải pháp cấp bách nào cần thực hiện để xử lý ô nhiễm chất thải tại đầm Đông Hồ? Cần thiết lập ngay hệ thống thuyền thu gom và xử lý triệt để 22,5 tấn rác thải sinh hoạt phát sinh mỗi tháng từ 630 hộ dân ấp Cừ Đứt. Đồng thời, chính quyền cần xây dựng hệ thống thu gom nước rỉ rác tại bãi rác phía Tây thị xã và kiểm soát chặt chẽ nước thải từ các vùng nuôi tôm công nghiệp lân cận.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với các đóng góp trọng tâm:

  • Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên, tài nguyên sinh vật với 96 loài cá và 48 loài thực vật ngập mặn tại vùng đất ngập nước đầm Đông Hồ.
  • Ứng dụng thành công khung phân tích DPSIR để làm rõ nguyên nhân gây bồi lắng lòng hồ với độ dày bùn đáy 1,3 - 1,5 m và xác định các nguồn áp lực chất thải sinh hoạt 22,5 tấn/tháng.
  • Đánh giá xác đáng tác động của các công trình công cộng và kè lấn biển đối với sự mất cân bằng động lực sông - biển tại khu vực cửa sông ven biển Tây.
  • Đề xuất hai mô hình thực tiễn đột phá gồm Làng sinh thái du lịch cộng đồng Cừ Đứt và Đồng quản lý khai thác thủy sản tại bãi triều Thị Vạn.
  • Xây dựng lộ trình quản lý và chính sách bảo tồn tài nguyên thiên nhiên đồng bộ cho thị xã Hà Tiên trong giai đoạn 2017 - 2025.

Công trình là tài liệu tham khảo khoa học hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và các tổ chức phát triển bền vững. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học quan tâm có thể tiếp tục mở rộng nghiên cứu mô hình hóa thủy động lực chi tiết nhằm bảo tồn hiệu quả hệ sinh thái quý giá của Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang.