Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Sự tham gia của cộng đồng Cách tiếp cận có sự tham gia đã được nhiều tác giả nghiên cứu, nhưng có lẽ vấn đề quan trọng nhất có thể là những cách hiểu khác nhau về khái niệm “tham gia” (Chambers, 1991; dẫn theo Bùi Việt Hải, 2007 [7]). Đây là một khái niệm được diễn dịch một cách rất mềm dẻo.
Trong những ý kiến thảo luận về sự tham gia trong quản lý tài nguyên thiên nhiên (TNTN), cần phân biệt giữa các mức độ và loại hình tham gia. Có hai trường hợp cực đoan có thể xẩy ra liên quan đến khái niệm này: (1) Sự tham gia có thể được xem là một phương thức hay phương tiện để tạo điều kiện thực hiện một biện pháp quản lý đã được các cơ quan bên ngoài ấn định trước; (2) Sự tham gia được xem là mục đích; phát huy sự tham gia là một phương thức phát huy nội lực của các cộng đồng địa phương để bảo vệ cơ sở tài nguyên của họ. Trong thực tế, mức độ và hình thức tham gia bị chi phối bởi bối cảnh xã hội, nhưng điều quan trọng khi đánh giá mức độ tham gia là ý nghĩa cơ bản của nó: người dân phải tham gia vào các quyết định chi phối đến đời sống của họ (Bùi Việt Hải, 2007 [7]). Việc sử dụng phổ biến cụm từ “sự tham gia” phản ánh những quan điểm khác nhau về mục tiêu và phương thức.
Trong nhiều trường hợp, “sự tham gia” ít khi được định nghĩa rõ ràng và do đó trở nên ít có ý nghĩa khi thực thi các hoạt động quản lý rừng. Sự suy diễn phong phú các nội dung khác nhau về sự tham gia đã dẫn tới những định nghĩa phức tạp về các “kiểu tham gia”. Nói chung, sự phân biệt các kiểu tham gia dựa trên mức độ kiểm soát tiến trình lập quyết định về tài nguyên giữa những người trong cuộc (hay đối tượng hưởng lợi) và người ngoài cuộc (hay người khởi xướng) [11]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 (1) Sự tham gia thường được hiểu ở cấp độ cơ bản và đơn giản nhất, đó là sự cung cấp thông tin tham vấn khi một cơ quan hay tổ chức tiến hành để lấy ý kiến của các thành viên trong một cộng đồng trước khi đưa ra các quyết định hay triển khai các hoạt động có ảnh hưởng đến người dân địa phương.
Một lần nữa, ở đây, người dân không có quyền quyết định trồng rừng như thế nào, hoặc QLBVR ra sao, mặc dù họ có thể có quyền ký hay không ký các hợp đồng này; ở đây, sự tham gia dừng lại ở mức độ đóng góp sức lao động. (3) Cao hơn nữa, sự tham gia được thể hiện ở mức độ người dân tham gia vào việc lập kế hoạch cùng với các cơ quan phát triển từ bên ngoài, đóng góp nhân lực và kinh phí cho các hoạt động phát triển ở địa phương vì lợi ích của mình và giám sát tiến trình. Nhiều hoạt động của chương trình 145/TTg đã được thực hiện thành công theo hướng này. (4) Sau cùng, ở mức cao nhất, sự tham gia thường được hiểu như là một chuẩn mực, trong đó người dân chủ động, tích cực đưa ra các phương án phát triển.
Trong trường hợp này, các cơ quan bên ngoài tham gia vào hoạt động của cộng đồng mà không phải là các cộng đồng tham gia vào công việc của họ. Bốn cấp độ trên đây của cách tiếp cận “có sự tham gia” có thể được vận dụng trong từng tình huống cụ thể. Do đó, ý tưởng cho rằng mọi sự tham gia đều đồng nghĩa với “tốt” và mọi hoạt động thiếu sự tham gia đều đồng nghĩa với “không tốt” có vẻ cực đoan. Tuy nhiên, trong thực tế, nó có thể ẩn dấu một cách thức làm cho các hoạt động dựa trên sự điều khiển được tiến hành thuận lợi và dễ được chấp nhận [11].
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Mặc dù sự phân loại các ý tưởng có vẻ đơn giản về sự tham gia, có thể hữu ích cho việc tìm hiểu bản chất của vấn đề, nó cũng có một số nhược điểm gây trở ngại cho việc phát triển các hệ thống quản lý rừng có sự tham gia (Pimbert, Gujja and M. Shah, 1996; dẫn theo Hoàng Hữu Cải, 2001). Thứ nhất, nó giả định rằng mức độ tham gia có thể được xác định ngay từ đầu khi lập kế hoạch, tiến hành thiết kế hệ thống giám sát và đánh giá có sự tham gia, và giữ bất biến trong tiến trình đó. Thứ hai, nó phân biệt một cách giản đơn “người trong” và “người ngoài”.
Điều này làm lu mờ một thực tế là các thành viên ở cả hai nhóm cũng có những mức độ tham gia khác nhau. Khi xem xét tất cả các thành viên của cộng đồng là người trong cuộc, các dự án dễ có xu hướng đồng nhất, người có nhiều đất với người không có đất, phụ nữ và nam giới, nông dân khá giàu và nông dân nghèo. Đối với việc giám sát, điều này có nghĩa là khi sự tham gia được giả định là chỉ báo của sự phát triển. Thứ ba, vì sự phân loại ít nhiều mang tính chất phán đoán, nhiều tác giả đã đưa ra các thuật ngữ như tham gia bắt buộc hay sự tham gia được điều khiển.
Tuy nhiên trong thực tế, không phải mọi người đều mong muốn, có thể và cam kết sẽ tham gia như nhau trong một tiến trình. Trong thực tế, bối cảnh chính sách và xã hội địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và hình thức tham gia của các nhóm nông dân khác nhau. Do đó, khả năng đạt được sự tham gia hoàn toàn trong tiến trình lập kế hoạch, giám sát và đánh giá chỉ là một tình trạng phi thực tế (Hoàng Hữu Cải, 2001) [2]. Trong sự phát triển của lý thuyết về sự tham gia trong quản lý môi trường và TNTN, cần nhấn mạnh một xu thế: bản thân các vấn đề về quản lý TNTN nói chung và TNR nói riêng là một tiến trình xã hội (Myint, 2003; dẫn theo Nguyễn Thị Kim Tài [16]).
Tuy nhiên, hành động của con người trong các cộng đồng ở trong hay gần rừng bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên của các hệ sinh thái đồng thời các quy luật do con người tạo ra. Do đó, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 để phân tích tương tác giữa cộng đồng với môi trường và tài nguyên theo các khía cạnh định chế - môi trường, cần xem môi trường và cộng đồng như là tác nhân hành động hơn là nhân tố trong quản lý tài nguyên. Bản thân thuật ngữ “cộng đồng” cũng đã được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Trong các tài liệu liên quan đến quản lý TNTN, cộng đồng thường được hiểu là “một nhóm người chia sẻ những lợi ích, mối quan tâm, hay các mối liên hệ chức năng hay đạo đức” (Pomeroy và Carlos, 1996; dẫn theo R.
Bên cạnh đó, cũng có những cách hiểu khác nhau về cách tiếp cận “quản lý TNR dựa vào cộng đồng”. Chính vì thế, việc xây dựng một lý thuyết chung dựa trên các công trình nghiên cứu hành động đã được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm phát triển trong hơn một thập kỷ qua. Cơ sở của việc thiết kế các hệ thống quản lý tài nguyên, trong đó có bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng là sự xem xét các định chế quản lý của con người có phù hợp với các hệ thống tự nhiên sinh học của môi trường hay không. Trong đề tài, chúng tôi sử dụng khái niệm quản lý TNR dựa vào cộng đồng theo ý nghĩa này để xây dựng khung phân tích.
Trong bối cảnh của quản lý và bảo tồn TNR có sự tham gia, nhiều câu hỏi quan trọng được đặt ra chung quanh các vấn đề “ai tham gia” và họ tham gia như thế nào? Việc phân tích sự tham gia trước hết được bắt đầu bằng cách xác định những “người tham gia”, những “cá nhân” hay “nhóm liên quan” nào tham gia vào hệ thống quản lý và bảo tồn TNR? Vai trò của họ là gì? Những người này tham gia với động cơ nào? Liệu các mối quan tâm nào của họ sẽ được lưu ý và hệ thống quản lý có sự tham gia có giúp giải quyết các mối quan tâm của họ ra sao? Sự tham gia thực tế xảy ra ở địa phương như thế nào? Không phải tất cả các câu hỏi này đều có câu trả lời rõ ràng. Tuy nhiên, nếu các bên tham gia không xem xét chúng một cách thận trọng, sự tham gia sẽ mất đi ý nghĩa của nó (Bùi Việt Hải, 2007 [7]). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nghiên cứu liên quan đến bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng 1.1 Trên thế giới Nghiên cứu của Berkmuller và các cộng sự (1992) cho rằng, việc nâng cao nhận thức và mối quan tâm của cộng đồng địa phương đối với (BTTN) và các hoạt động có liên quan là rất quan trọng.
Tác giả cho rằng, nếu không nâng cao nhận thức về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của khu BTTN thì rừng sẽ tiếp tục bị xem như là một tài nguyên có thể khai thác. Để thực hiện thành công những giải pháp dài hạn cho những vấn đề về môi trường, cần đưa việc giáo dục về các giá trị của môi trường vào trong các chương trình giáo dục cho các KBT (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17). Việc xây dựng các qui tắc và qui định cho vùng đệm và vùng lõi của khu BTTN với sự tham gia của các cộng đồng và chính quyền địa phương đã được Gilmour và Nguyễn văn Sản (1999), Đặng Đình Trân (1997), Mackinnon (1986), Sayer (1991) đề xuất một số hướng dẫn cho các vùng quản lý khác nhau như: cấm đốt thảm thực vật trong vùng đệm, tránh trồng những loại cây dễ bắt lửa, cấm đưa vào trong vùng đệm các loài động vật và thực vật có nhiều khả năng xâm lấn hay đe doạ khu vực bảo tồn, cấm bất kỳ một hành động nào có khả năng đe doạ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong KBT, tránh trồng các loài cây dễ khuyến khích động vật hoang dã ra ăn cỏ ngoài KBT (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17). Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G (1986) cho rằng, đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các khu BTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ thống quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất.
Nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.