Tổng quan nghiên cứu

Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu tỉnh Đồng Nai quản lý tổng diện tích tự nhiên 67.544,3 ha, sở hữu độ che phủ rừng lên đến 83,9%, đóng vai trò then chốt trong phòng hộ nguồn nước cho hồ Trị An và bảo tồn sinh cảnh đặc trưng vùng Đông Nam Bộ. Tuy nhiên, tính đa dạng sinh học tại đây đang đứng trước sức ép suy thoái nghiêm trọng do các hoạt động xâm hại tài nguyên rừng. Xã Mã Đà là địa bàn đặc thù khi có toàn bộ 27.477,5 ha diện tích tự nhiên nằm trọn trong lâm phần khu bảo tồn, nơi sinh sống của 1.725 hộ gia đình với 7.959 nhân khẩu. Áp lực sinh kế của cộng đồng địa phương, với 95% lao động làm nghề nông lâm nghiệp nhưng quỹ đất canh tác bình quân chỉ đạt 1,53 ha/hộ, đã trực tiếp dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất rừng, chặt phá cây gỗ và săn bắt động vật hoang dã trái phép.

Đề tài được triển khai nhằm thiết lập cơ sở khoa học vững chắc cho việc quản lý bền vững tài nguyên sinh học thông qua 4 mục tiêu trọng tâm: đánh giá thực trạng tài nguyên và công tác quản lý; phân tích đặc điểm cấu trúc cộng đồng cùng các hoạt động tác động đến rừng; nhận diện các yếu tố thúc đẩy hoặc rào cản sự tham gia của người dân; và đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn dựa vào cộng đồng có tính khả thi cao. Nghiên cứu được thực hiện trên phạm vi không gian xã Mã Đà trong giai đoạn từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn 52.166,3 ha rừng tự nhiên và nâng cao mức sống cho cư dân vùng đệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng và tiếp cận sinh thái nhân văn. Theo khung lý thuyết của Robert Chambers và các nghiên cứu quản trị tài nguyên đương đại, sự tham gia của người dân được phân định qua 4 cấp độ: cung cấp thông tin tham vấn, đóng góp sức lao động, đồng tham gia lập kế hoạch, và người dân chủ động làm chủ tiến trình ra quyết định. Bản chất của bảo tồn bền vững là một tiến trình xã hội, trong đó cộng đồng sống gần rừng vừa là tác nhân tác động, vừa là chủ thể trực tiếp hưởng lợi và bảo vệ tài nguyên.

Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng quan điểm hệ thống sinh thái học lâm nghiệp để luận giải mối quan hệ tương hỗ giữa ba trụ cột: hệ thống tự nhiên, hệ thống kinh tế và hệ thống thể chế xã hội. Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm cốt lõi:

  • Quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng;
  • Vùng đệm và phân khu chức năng khu bảo tồn thiên nhiên;
  • Lâm sản ngoài gỗ và chuỗi giá trị sinh kế bản địa;
  • Đồng quản lý và thể chế hóa quyền tiếp cận tài nguyên rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài tích hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, kết hợp giữa kế thừa dữ liệu thứ cấp từ Chi cục Kiểm lâm, Ban quản lý khu bảo tồn và khảo sát thực địa sơ cấp. Khung thời gian thu thập dữ liệu chuyên sâu diễn ra xuyên suốt từ tháng 5 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009.

Để xác định cỡ mẫu đại diện, nghiên cứu áp dụng công thức xác suất thống kê cho tổng thể N = 1.725 hộ dân với độ tin cậy 95% và sai số mẫu 5%, xác định cỡ mẫu tối thiểu là 91 hộ. Nhằm tăng cường độ chính xác khoa học, tác giả mở rộng dung lượng mẫu khảo sát lên 151 hộ gia đình tại 5 trên 7 ấp có vị trí tiếp giáp và nằm sâu trong rừng (Ấp 2, 3, 4, 5, 6), tương đương tỷ lệ lấy mẫu 10% số hộ sống gần rừng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được lựa chọn nhằm bao quát các nhóm hộ có mức độ phụ thuộc sinh kế khác nhau.

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia được triển khai qua các công cụ: biểu đồ diễn biến thời gian giai đoạn 2004 - 2008, lịch thời vụ canh tác nông lâm kết hợp, lược sử thôn bản và 4 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm về khai thác gỗ, săn bắt thú rừng, thu hái lâm sản ngoài gỗ. Toàn bộ số liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý thống kê mô tả, phân tích hồi quy tương quan trên phần mềm SPSS 13.0 và Microsoft Excel 2003, giúp lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa vốn đầu tư sản xuất với thu nhập nông lâm nghiệp của các nông hộ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng tài nguyên sinh vật tại khu bảo tồn ghi nhận mức độ đa dạng loài phong phú nhưng chất lượng thảm thực vật đang bị suy thoái cục bộ. Hệ thực vật bậc cao có mạch gồm 614 loài, 390 chi, 112 họ thuộc 6 ngành, trong đó ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 93,9% tổng số loài. Có 13 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam và 5 loài đặc hữu mang địa danh Đồng Nai. Hệ động vật có xương sống trên cạn ghi nhận 276 loài thuộc 84 họ, 28 bộ, trong đó có 66 loài quý hiếm nguy cấp chiếm 23,9% tổng khu hệ động vật. Tuy nhiên, dù diện tích có rừng che phủ 83,9% nhưng tỷ lệ rừng giàu và trung bình chỉ còn 6,5%, phần lớn diện tích là rừng nghèo kiệt và phục hồi sau khai thác lâm trường trước năm 2000.

Về mặt xã hội, áp lực dân số đè nặng lên tài nguyên khi có tới 474 hộ dân, chiếm 27,5% tổng số hộ xã Mã Đà, sinh sống trực tiếp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu phục hồi sinh thái. Trong cơ cấu lao động, 95% làm việc trong khu vực nông lâm nghiệp truyền thống. Hoạt động khai thác lâm sản trái phép diễn ra thường xuyên: trên 40% số hộ được phỏng vấn có tham gia thu hái lâm sản ngoài gỗ như măng, lồ ô, dầu chai, cây thuốc và củi; khoảng 15% số hộ thừa nhận có hoạt động bẫy bắt động vật rừng để cải thiện bữa ăn hoặc bán kiếm thêm thu nhập trong những tháng nông nhàn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến vi phạm tài nguyên rừng xuất phát từ tình trạng thiếu đất canh tác màu mỡ, thiếu vốn sản xuất và kỹ thuật thâm canh còn lạc hậu. Tương tự bài học tại Vườn quốc gia Yok Đôn và Khu bảo tồn Chư Mom Ray, việc áp dụng biện pháp kiểm lâm xử phạt hành chính đơn thuần tỏ ra kém hiệu quả nếu không giải quyết gốc rễ vấn đề an ninh lương thực. Dù Hạt Kiểm lâm Vĩnh Cửu duy trì lực lượng lên tới 216 người trong tổng số 279 cán bộ nhân viên toàn đơn vị, các vụ vi phạm khai thác gỗ và lấn chiếm đất rừng vẫn diễn biến phức tạp.

Số liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ phân tán hồi quy tuyến tính đã chỉ ra mối tương quan thuận rõ rệt giữa quy mô vốn đầu tư phân bón, giống với nguồn thu nhập từ cây Điều và cây Xoài của các hộ gia đình. Các bảng thống kê chéo chỉ ra rằng những hộ được vay vốn tín dụng chính sách và tập huấn kỹ thuật ghép cải tạo vườn tạp có tỷ lệ tham gia vào rừng khai thác lâm sản giảm tới 65% so với nhóm hộ không được tiếp cận nguồn lực. Biểu đồ cơ cấu thu nhập cũng minh chứng rằng khi nguồn thu từ kinh tế vườn đồi chiếm trên 70% tổng thu nhập gia đình, mức độ phụ thuộc vào việc khai thác gỗ và săn bắt thú rừng giảm xuống dưới 5%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết luận thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn đa dạng sinh học:

  1. Nhóm giải pháp kinh tế và sinh kế: Triển khai mở rộng hạn mức giao khoán bảo vệ 21.527,4 ha rừng tự nhiên cho 100% hộ dân sinh sống tại các ấp tiếp giáp vùng lõi; giải ngân nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội để hỗ trợ người dân thâm canh 2 cây trồng chủ lực là Điều và Xoài, hướng tới mục tiêu tăng trưởng thu nhập bình quân của hộ gia đình từ 25% đến 30% trong giai đoạn 2010 - 2015. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Vĩnh Cửu.

  2. Nhóm giải pháp kỹ thuật nông lâm kết hợp: Chuyển giao các gói kỹ thuật tỉa cành tạo tán, ghép chồi năng suất cao cho 1.599,7 ha rừng trồng và vườn cây ăn trái; xây dựng mô hình trồng mây nếp, tre lấy măng và cây dược liệu bản địa dưới tán rừng nghèo kiệt, bảo đảm nâng cao độ che phủ thảm thực vật lên trên 85%. Chủ thể thực hiện: Phòng Khoa học Kỹ thuật thuộc Khu bảo tồn phối hợp Trạm Khuyến nông huyện Vĩnh Cửu.

  3. Nhóm giải pháp xã hội và thể chế cộng đồng: Thành lập 5 tổ tự quản bảo vệ rừng tại 5 ấp trọng điểm (Ấp 2, 3, 4, 5, 6); lồng ghép quy ước bảo vệ động thực vật hoang dã vào hương ước ấp văn hóa theo tinh thần Nghị định 79/2003/NĐ-CP về quy chế dân chủ cơ sở, phấn đấu giảm 50% số vụ vi phạm lâm luật hàng năm. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Mã Đà cùng Hạt Kiểm lâm Vĩnh Cửu.

  4. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực và truyền thông môi trường: Tổ chức các khóa đào tạo nâng cao kỹ năng đánh giá nông thôn có sự tham gia cho 216 cán bộ kiểm lâm; thực hiện định kỳ 12 chương trình giáo dục môi trường học đường mỗi năm tại các trường học trên địa bàn xã Mã Đà giai đoạn 2010 - 2013. Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh Cửu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực chứng và phương pháp tiếp cận giá trị cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý các khu rừng đặc dụng và vườn quốc gia: Cung cấp mô hình điều tra sinh kế, định lượng mức độ phụ thuộc vào tài nguyên và cẩm nang thiết kế phương án giao khoán rừng có sự tham gia của người dân vùng đệm.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Hỗ trợ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai cùng Ủy ban nhân dân cấp huyện trong việc hoạch định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, quy hoạch phân khu 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/2005/CT-TTg.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu hệ thống sinh thái nhân văn, kỹ thuật xử lý dữ liệu điều tra lâm nghiệp bằng phần mềm SPSS và công cụ PRA.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa tin cậy để thẩm định, xây dựng các văn kiện dự án phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học và thích ứng biến đổi khí hậu tại lưu vực sông Đồng Nai.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu như thế nào để đảm bảo tính khoa học? Tác giả áp dụng công thức xác suất cho tổng thể 1.725 hộ dân với độ tin cậy 95% và sai số 5%, xác định dung lượng mẫu lý thuyết là 91 hộ. Trong thực tế, nghiên cứu đã phỏng vấn trực tiếp 151 hộ tại 5 ấp ven rừng (chiếm 10% số hộ vùng trọng điểm), bảo đảm tính đại diện cao cho các mức độ phụ thuộc sinh kế.

Đặc điểm đa dạng sinh học tại Khu bảo tồn Vĩnh Cửu có gì nổi bật? Khu bảo tồn ghi nhận 614 loài thực vật bậc cao thuộc 6 trên 8 ngành thực vật của Việt Nam (chiếm 75%) và 276 loài động vật có xương sống trên cạn. Trong đó, có 13 loài thực vật và 66 loài động vật thuộc danh lục quý hiếm, nguy cấp ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Đâu là áp lực lớn nhất của cộng đồng xã Mã Đà đối với công tác bảo tồn? Áp lực lớn nhất là 27,5% số hộ dân (474 hộ) sinh sống phân tán ngay trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái. Đồng thời, 95% trong số 4.752 nhân khẩu lao động làm nghề nông lâm nghiệp nhưng chỉ có bình quân 0,33 ha đất sản xuất trên một nhân khẩu, dẫn đến việc khai thác tài nguyên rừng để mưu sinh.

Mô hình phát triển kinh tế nào mang lại hiệu quả cao nhất cho người dân địa phương? Kết quả phân tích hồi quy khẳng định mô hình thâm canh cải tạo vườn cây Điều và cây Xoài kết hợp chăn nuôi nông hộ mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Khi được đầu tư phân bón và kỹ thuật đúng mức, năng suất vườn cây tăng trên 35%, trực tiếp tạo nguồn thu bền vững thay thế việc phá rừng.

Lực lượng kiểm lâm cần thay đổi phương thức quản lý ra sao để nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng? Lực lượng kiểm lâm gồm 216 biên chế cần chuyển đổi từ phương thức tuần tra ngăn chặn hành chính thuần túy sang mô hình đồng quản lý. Kiểm lâm viên cần được đào tạo kỹ năng truyền thông cộng đồng, đóng vai trò cầu nối kỹ thuật nông lâm kết hợp và hỗ trợ các tổ tự quản ấp quản lý bảo vệ rừng tại gốc.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng 67.544,3 ha rừng và hệ sinh thái đa dạng gồm 614 loài thực vật cùng 276 loài động vật tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu.
  • Làm rõ cấu trúc kinh tế xã hội của 1.725 hộ dân xã Mã Đà, chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của việc xâm hại rừng là do 95% lao động phụ thuộc vào đất nông lâm nghiệp với quỹ đất canh tác hạn hẹp.
  • Ứng dụng thành công phương pháp PRA và xử lý dữ liệu thống kê trên SPSS 13.0 với 151 mẫu điều tra thực tế, xác lập cơ sở khoa học tin cậy cho đánh giá tài nguyên có sự tham gia của cộng đồng.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về kinh tế, kỹ thuật nông lâm kết hợp, thể chế xã hội và nâng cao năng lực cho 279 cán bộ nhân viên cùng người dân địa phương.
  • Định hướng lộ trình thực thi giai đoạn 2010 - 2015, kêu gọi các cấp chính quyền tỉnh Đồng Nai và Ban quản lý khu bảo tồn nhanh chóng thể chế hóa các quy ước đồng quản lý rừng vào thực tiễn phát triển kinh tế xã hội địa phương.